Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2020

 

Đây là một ký sự của ông M. Delteil, dược sĩ trưởng của hải quân đã về hưu viết về chuyến du hành của ông đến Nam Kỳ trước năm 1887 (thời gian phát hành bài này). Tôi chỉ lược dịch những phần liên quan tới thành phố Sài Gòn thôi, để cho các độc giả hình dung cái không khí của thành phố trong những thời kỳ đầu hình thành.

 

MỘT NĂM LƯU LẠI TẠI NAM KỲ:

HƯỚNG DẪN CHO KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SÀI GÒN

 

M. Delteil

 

 

 


CHƯƠNG HAI

 

TÓM TẮT. .- Đến Sài Gòn.- Khách sạn Favre. - Làm thế nào để tìm chổ ở và tiện nghi ở Sài Gòn – Giặt ủi – may mặc – đóng giầy – thăm chính quyền - Ông Le Myre de Yillers, cách thức ông tiếp đón – mô tả thành phố - tiệm ba za – khu vườn thích nghi khí hậu – đại lộ Norodom – thánh đường – dinh toàn quyền – đường Catinat – Những ngôi nhà – tháp nước.

Chuyến đi du khảo ở Gò Vấp – điều tra thực địa Chợ Lớn – dòng người Tàu  lễ trong chùa – viếng đồn Cây Mai – những khu vườn trồng rau – trở về Sài Gòn

 

Đã được báo trước một ngày tại Sài Gòn, bởi văn phòng điện báo của mũi Saint-Jacques, chúng tôi được chờ đợi bởi các đồng nghiệp và bạn bè đến bên tàu Oxus để chào đón chúng tôi và sẵn sàng hướng dẫn và đưa chúng tôi đến nơi ở. Chúng tôi cùng hành lý xuống một chiếc ghe tam bản, một loại ghe nhỏ điều khiền bời một người An Nam và con gái của ông; đưa chúng tôi vượt kênh Tàu Hủ, một nhánh của sông Sài Gòn chia cắt hảng Messageries và thành phố (thời gian này chưa có cầu quay nối Khánh Hội với thành phố.N.D) và đưa chúng tôi lên bờ tại bờ kè có nhiều băng đá nơi đó có một cột cờ được dựng lên (Cột cờ Thủ Ngữ). Nơi đây được biết với cái tên thân thuộc là điểm của những kẻ tán dóc (Pointe des Blagueurs); là nơi thường xuyên vào mỗi buổi chiều tôi, sau buổi ăn, những người đi dạo đến để hít thở không khí trong lành của dòng sông và tham dự những chuyến đi không ngừng của những chiếc thuyền đưa họ đến Chợ Lớn, thành phố người Tàu, nơi có nguồn hàng hóa phong phú. Từ đó chúng tôi leo lên một loại xe địa phương, như một cái hộp vuông được kéo bởi con ngựa nhỏ ốm nhom do người Tàu lái và không biết một chút tiếng Pháp nào cả. Muốn di chuyển bên phải hay trái hoặc đằng trước. anh ta chỉ cần đập cây gậy vào lưng con ngựa. Những người mới đến, thường nghỉ rằng sẽ có người hướng dẫn trong xe, thường rất bối rối khi giao phó cho những người xa lạ này, nên họ bị lợi dụng bởi sự ngây thơ để đưa họ đi lung tung rồi tính tiền giờ thật nhiều vào.



Kênh Tàu Hủ nhìn từ sông Sài Gòn

Chúng tôi băng qua một phần của cảng Commerce (Bến Bạch Đằng), ở cuối đường Catinat và xuống xe tại khách sạn Favre, một dạng trạm dừng cho du khách theo kiểu các khách sạn của Tích Lan (Skrilanca) và Singapore. Khách sạn này là một sự quan tâm thực sự cho du khách; đó là khách sạn duy nhứt của thuộc địa chúng tôi có cơ ngơi được ưa thích và hiểu biết ý của du khách. Cái người đã lập bảng thiết kề và xây dựng hẳn là một đầu bếp lành nghề và một nhà tổ chức xuất sắc. Ông nghĩ rằng, vì số lượng đáng kể du khách quân sự hoặc dân sự đến thuộc địa, mỗi năm cần phải thiết lập ở Sài Gòn không chỉ là nơi nghỉ dường tạm thời trong những ngày đầu tiên, mà còn là một khách sạn phù hợp có khả năng giữ lại những người độc thân và vãng lai, cung cấp cho họ các phòng lớn và được trang bị tốt, một bàn ăn tuyệt vời, một nơi gặp gỡ và một dịch vụ được thực hiện tốt. M. Favre đã thành công trong việc hiện thực hóa ý tưởng này; và, sau một vài năm, các quan niệm này đã thành công đến nỗi ông ấy đã trổ về Pháp về một tài sản nhất định, để lại cho người kế nhiệm của ông ấy một cơ sở thịnh vượng hoàn toàn.

( - Ông Delteil ghi trong sách ông là “Hôtel Favre” nhưng theo Niên giám Nam Kỳ thuộc Pháp (“Annuaire de la Cochinchine française”) các năm 1879, 1880, 1881 thì có ghi là “Hôtel Fave” (khách sạn Fave) trên đường Catinat chứ không phải Favre. Và người điều hành khách sạn là ông A. E. Fave (hôtelier, restaurateur). Đến năm 1881 thì khách sạn Fave là do ông Laval quản lý và niên giám năm này có ghi ông A. E. Fave làm bánh mì (boulanger) ở đường Catinat và đường Bonnard. Như vậy thì ông Delteil đã ghi lầm Fave thành Favre. Theo ông Fabiani (22) trong hồi ký xuất bản năm 1878 thì khách sạn “Hôtel Fave” (ghi đúng là Fave) là khách sạn tiện nghi, đẹp, có vườn và thiết kế qui cũ. Các phòng đều rộng rãi, có nước, phòng tắm. Khách sạn do ông Élisée Fave thiết kế và được xây bởi các ông Bazin, Cazaux và Salvaire dưới thời của chuẩn Đề đốc (Contre-Amiral) Duperré trên một nền đất đầm lầy mà mọi người cho là khó xây dựng được. Niên giám Nam Kỳ 1876 ghi các ông François Bazin là thầu (entrepreneur), ông Cazeaux là thợ thiếc (ferblantier) và ông Salvaire làm đèn (lampist) trên đường Catinat.

- Ngoài khách sạn “Hôtel de l’Univers” ở đường Turc, một khách sạn lớn, tiện nghi trên đường Catinat vào những năm của thập niên 1870 và 1880, trước khi có khách sạn Continental là khách sạn “Hôtel Fave”. Khách sạn Fave là nơi đầu tiên mà những viên chức quân, dân sự từ Pháp mới đến Sài Gòn làm việc hay lập nghiệp đến tạm trú ngụ trước khi kiếm được nhà riêng. Theo ông Arthur Delteil (20), nhà dược học người Pháp, ghi lại (7) khi ông đến Sài Gòn năm 1882 thì khách sạn Fave gồm 3 tầng: tầng trệt là nhà ăn có các quạt “panca” trên trần nhà, hai tầng trên là các phòng, mỗi phòng đều có nước “robinet” và vòi sen (một tiện nghi lúc bấy giờ). Khách sạn được ông Fave xây, và với sự thành công của khách sạn, ông đã trở nên giàu có khi trở về Pháp (21).

Cũng theo ông Delteil thì khách sạn Fave ở trên đường Catinat, chiếm hầu hết không gian giữa đại lộ Bonnard và đường d’Espagne. Đối diện với khách sạn Fave là phòng bán đấu giá các bàn ghế, giường tủ… rất tiện lợi cho những ai muốn có hay mướn được nhà riêng đến để mua trang bị cho nhà mới. Hiện nay vẫn chưa xác định chính xác được “Hôtel Fave” ở đâu (ở vị trí cũ của khách sạn Continental, góc đường Catinat và đường d’Espagne hay cạnh đó?).

Nguồn: Nguyễn Dức Hiệp- Đường Catinat đầu thế kỷ 20)

Khách sạn Favre chiếm gần như toàn bộ phần của đường Calinat giữa đại lộ Bonard và đường d' Espagne (Lê Lợi và Lê Thánh Tôn). Khách sạn nằm ở trung tâm thành phố, trên con đường nhộn nhịp buôn bán sầm uất và gần bến cảng và các điểm vận chuyển của Messageries và vận tải chiến tranh. Ở tầng trệt có một phòng bi-a, một nhà hàng lớn cho những người muốn ăn một mình hoặc cho các nhóm nhỏ, và hai hoặc ba phòng ăn nhỏ khác cho khách trọ tháng. Trong bữa ăn, khách được làm mát bằng sự di chuyển chậm chạp của những chiếc Panca khổng lồ đặt trên đầu họ, hoạt động như những chiếc quạt khổng lồ. Biệt thự bao quanh ngôi nhà từ phía trước và từ phía sau. Những mái hiên bao bọc khách sạn từ trước ra sau. Tầng thứ nhất và thứ hai chiếm từ 50 đến 60 phòng. Một hành lang rộng, thông thoáng, ngăn cách các phòng thành hai hàng, một hàng nhìn ra sân và một hàng nhìn ra đường. Đó là những phòng rất đắt và được đặt chổ nhiều nhất. Các phòng được xây dựng và trang bị theo một kiểu cách thống nhất, không sang trọng, nhưng luôn có sự hài hòa nhất định. Bên cạnh mỗi hàng là một phòng tắm có vòi sen, bồn tắm và rô bi nê mà bạn chỉ phải xoay để lấy nước sạch. Sự lắp đặt này là một nét thiên tài của người thiết kế khách sạn, vì thực tế, cạnh bạn, chỉ có tầm tay, bất cứ lúc nào ở một nơi nóng như Sài Gòn. Nước được sử dụng tùy thích tha hồ dưới các dạng tắm, vòi sen, rửa lạnh, tạo thành một niềm vui mà không thể so sánh với bất kỳ việc gì! Khi trong cái nóng ngột ngạt của tháng Tư và tháng Năm, nhiệt kế vẫn ở mức 31 độ. Ngày cũng như đêm, niềm vui thể chất lờn nhứt là được đắm mình trong làn nước lạnh, tạo thành một sự tiêu hao năng lượng kéo dài đủ lâu để mang lại sự thư giãn và hạnh phúc trong vài giờ. Chính sự tắm rửa với nước lạnh này giúp bạn vượt qua những tháng nóng nhất trong năm mà không phải căng thẳng bực dọc.

Việc mưu cầu cho sự thoải mái cho các khách trọ đã tạo ra nhiều điều hơn cho việc thành công của khác sạn. Ngoài ra, nhiều sĩ quan đã không ngần ngại cư trú ở đó trong suốt thời gian họ ở Nam Kỳ, thay vì ra ở tại những ngôi nhà riêng, bắt buộc phải bày biện tiện nghi, phục vụ ít hơn tại khách sạn và chắc chắn không đáp ứng các tiện nghi như tôi vừa nói đến.

Giá của các phòng là từ 13 đến 15 piastres (65 đến 75 fr.). Về tiền thuê, đây là một mức giá rất phải chăng cho các sĩ quan đến phục vụ tại Nam Kỳ và có mức lương thường khá cao. Đó là 30 piastres mỗi tháng (150 fr.): Rượu, nước đá, cà phê, rượu mùi, 10 món ăn để lựa chọn và dịch vụ đi kèm.



Tôi quyết định ở lại khách sạn và thuê ở đó hoàn toàn trong suốt thời gian tôi ở Sài Gòn, Những người thích sống ở thành phố và đặt mình vào vị trí đặc biệt của họ khi được tha hồ lựa chọn. Họ có thể tìm thấy, trung bình từ 75 đến 100 fr. mỗi tháng, cho những ngôi nhà nhỏ hoặc nhà lớn hơn một chút thì từ 125 đến 150 franc; người ta lấy chúng cả hai để trả ít hơn. Mỗi một gia đình có nghĩa vụ phải đặt ít nhất 100 fr. trong tiền thuê nhà Vì việc cho thuê các tòa nhà rất có lời ở Sài Gòn, những người kiếm được tiền từ việc kinh doanh hoặc có một số vốn nhỏ thường đầu tư vào những ngôi nhà mà họ xây hay mua để cho thuê. Họ đảm bảo thu nhập từ 10 đến 12%. do đó khá dễ dàng để tìm chỗ ở khi bạn không muốn sống trong khách sạn.

Bạn phải có nhiệm vụ phải tự trang bị cho ngôi nhà và thực hiện các chi phí bày biện ban đầu. Trong trường hợp này, chúng tôi rẽ vào phòng đấu giá trên đường Catinat, nằm đối diện khách sạn Favre. Bạn có thể tìm thấy, rất rẻ, đồ nội thất, giường, bát đĩa, vv, từ những người đã rời khỏi thuộc địa. Đối với những chiếc ví ít tiền hơn, tôi khuyên đến các cửa hàng Tàu ở đường Catianat chuyên bán giường và ghế bằng tre với giá rẻ không đáng kể. Thật nhẹ, chắc và sử dụng tốt. Nếu bạn không kén chọn, bạn ngủ trên một chiếc nệm Cam Bốt, có thể gấp lại cho mỗi chuyến đi; giường phải trang bị một cái mùng và là tất cả để có khi đi ngủ.

Vấn đề lớn sau đó là có được một người giúp việc và một đầu bếp, nếu bạn ăn ở nhà. Người giúp việc nói chung là người An Nam; rất đắt, từ 30 đến 40 fr. mỗi tháng, kể cà nuôi ăn, và không có giá trị nhiều. Đó là những chàng trai trẻ từ 18 đến 20 tuổi được gọi là bồi (boy), họ lười biếng, hầu như luôn là kẻ trộm, chúng ta phải thay đổi họ mọi lúc. Đầu bếp thường là người Tàu: có giá 40 hoặc 50 fr. mỗi tháng. Chúng tôi hầu như luôn hài lòng với họ và họ nhanh chóng tìm hiểu về thói quen của ẩm thực châu Âu và thị hiếu của những người mà họ phục vụ. Chỉ có họ là không thích bị làm phiền trong công việc của mình. Vào buổi sáng, chúng ta đưa tiền cho anh ta đi chợ và chúng ta nói với anh ta: "Với số tiền này, anh sẽ mua cho tôi bánh mì và thức ăn để làm cho tôi ăn ngon." Anh ta luôn xoay sở với số tiền bạn đưa cho anh ta và để cung cấp cho bạn một bửa ăn tốt với giá tương đối thấp. Bạn không bao giờ tính toán với anh ta; nếu có sự khác biệt có lợi cho anh ta, thì đó là việc của anh ta.

Trong một gia đình có con nhỏ chúng ta thường cần một người nữ nuôi trẻ. Có những người khá giỏi ở Sainte-Enfance, họ được các xơ đào tạo, biết may vá, làm việc và nói tiếng Pháp. Thật không may, vì họ trông xinh đẹp, họ thường suy xét không tốt, như thường xuyên xảy ra ở Pháp cho các cô gái cùng loại. Tuy nhiên, tôi nghe nói rằng dịch vụ của những người nuôi trẻ này không tệ. Chúng tôi hài lòng bất cứ điều gì tốt hơn.

Ngày đầu tiên đặt chân đến Sài Gòn, tôi đã nhận được chuyến thăm của một số người Tàu đến để cung cấp cho tôi dịch vụ của họ: đó là tiệm giặt ủi, thợ may, thợ đóng giày, v.v. Mỗi người trong số họ tự giới thiệu hoạt động cơ sở họ cho sự quan tâm của những người mới đến. Trung bình một lần thuê là 12 fr. 50 c, người giặt có trách nhiệm giặt và ủi tất cả đồ giặt có khả năng bị bẩn trong tháng. Và Chúa có biết nếu chúng ta có thay đổi vải lanh thường xuyên ở một đất nước mà chúng ta hầu như luôn đổ mồ hôi này không!

Ở Sài Gòn, việc giặt giũ do đàn ông đảm trách. Thừ nhìn ở đường Catinat, nơi chủ yếu các nghiệp đoàn loại này đang hoạt động, các thợ thủ người Tàu tiến hành ủi vải lanh; đó là một hoạt động ban đầu xứng đáng được mô tả. Người thợ ủi ngậm đầy miệng anh ta bằng hỗn hợp nước và tinh bột và anh ta phun bằng đôi môi của mình, tạo một làn sương rất mịn của chất lỏng này trên chiếc áo nằm trước mặt anh ta; rôi từ từ sau đó anh ta lướt qua phần này bằng một loại xoong có cán chứa đầy than đỏ. Với các kiểu cách nguyên thủy và lò sưởi đơn giản như vậy, vải lanh được ủi thẳng một cách đáng kinh ngạc và màu trắng rực rỡ.

Đối với quần áo và giày dép, người Tàu sản xuất cho bạn với giá rẻ đến mức không cần mang từ Pháp một loại trang phục như vậy để dùng cả. Nào thử đánh giá! Một bộ quần áo hoàn chỉnh kiểu flannelle (bằng len hay bông) màu xanh nhạt, bao gồm quần, áo ghi lê và áo veston không có giá hơn 40fr., bao gồm vải cùng kiểu cách. Về phần mình, các thợ đóng giày Tàu làm cho bạn một đôi giày vải màu đen, mềm mại và mới toanh với giá chỉ 5 fr. Phải không, nếu bạn thích, thanh lịch và tinh tế; nhưng nó lại thuận tiện và hoàn toàn liên quan đến các yêu cầu của khí hậu. Tuy nhiên, các thợ may và thợ đóng giày Tàu không chịu đi vào những sáng tạo phóng túng và cách cắt may có nghiên cứu; vì họ không có khả năng đó. Họ chỉ sao chép một cách mù quáng những mô hình mà bạn cung cấp cho họ. Chính sự bắt chước này mà tham vọng của họ luôn bị giới hạn. (Lời nhận xét của tác giả cả trăm năm trước vẫn đúng cho tới nay)

Bộ đồ vải flanelle và nón kiểu lô hội nói chung tạo thành loại trang phục được mặc bởi phần lớn người châu Âu ở Sài Gòn. Một số người trẻ tuổi đã áp dụng kiểu thời trang của các sĩ quan Anh ở Ấn Độ và Singapore và là ở chổ mặc trực tiếp trên da những chiếc áo khoác trắng được cài nút từ trên xuống dưới, cái này thay đổi vào mỗi buổi sáng và trừ chiếc áo  Đó là cách ăn mặc giảm đến mức cần thiết.

                                                                                             (Còn tiếp)


Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2020


NGÀY ẤY VÀ BÂY GIỜ


1551. Giao lộ Võ Di Nguy - Võ Tánh 1970 và hiện nay.


1552. Ngả tư Hồng Thập Tự - Hai Bà Trưng xưa và nay.




1553.  Giao lộ Võ Di Nguy - Võ Tánh xưa và nay.


1554. Góc Hai Bà Trưng - Hiền Vương xưa và nay.



1555. Hotel Canberra BEQ đường Tổng Đốc Phương xưa và nay.


1556. Villa góc Công Lý - Phan Đình Phùng xưa và nay.


1557.  Bảo sanh Lương Kim Vy đường Hai Bà Trưng xưa và nay.


1558. Góc Công Lý - Phan Đình Phùng xưa và nay.


1559. Góc Huỳnh Thúc Kháng - Công Lý xưa và nay.


1560. Đường Pasteur gần với Hàm Nghi xưa và nay.



Nguồn Tim Doling,  Trung Ngo


Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2020






Bài nói chuyện của Bà Tôn Nữ Quỳnh Trân: "Sự phát triển không gian đô thị của Sài Gòn từ trước năm 1859 đến năm 1954 qua các bản thiết kế và bản đồ của thành phố." Vào cuối thế kỷ 18, Sài Gòn đã trở thành trung tâm hành chánh và thương mại chánh của miền Nam Việt Nam với trung tâm là Chợ Lớn [nghĩa là cái chợ lớn], làm thu hút các hoạt động thương mại của cả vùng Đồng Nai - Gia Định. Dưới triều đại nhà Nguyễn [1802-1945], Sài Gòn và Chợ Lớn trở thành trung tâm đô thị đông dân và thạnh vượng, đặc biệt là nhờ thương cảng, nơi thu hút rất nhiều vốn và lao động từ khắp miền. Năm 1865, bản thiết kế đô thị của Coffyn được thực hiện. Dự báo dân số sau đó là từ 500.000 đến 600.000 người. Đường sắt cho xe lửa và xe điện được xây dựng tại Sài Gòn - Chợ Lớn từ cuối thế kỷ 19 đến đầu những năm 1920, thời kỳ mà Sài Gòn mua lại sân bay Tân Sơn Nhứt.  Trong cùng thời gian này, các kiến ​​trúc lớn như tòa thị chánh, nhà hát thành phố, bưu điện, v.v ... được xây dựng. Năm 1931, Sài Gòn và Chợ Lớn đã hợp nhất lại thành một thành phố. Sự hợp nhất các động lực cụ thể của mỗi thành phố nhanh chóng dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ các hoạt động kinh tế và thương mại (xuất nhập cảng). Từ năm 1945 đến năm 1954, do hậu quả của chiến tranh, quá trình đô thị hóa Sài Gòn - Chợ Lớn bị tăng nhanh [dân chúng chạy trốn khỏi các khu vực chiến tranh để lánh nạn] và đưa đến việc không thể phát triển không gian và phối hợp đô thị theo kế hoạch cho các thành phần kinh tế, xã hội và văn hóa..
Tiểu sử: Bà Tôn Nữ Quỳnh Trân là Tiến sĩ Lịch sử (Đại học Kyril-Methodi, Sofia) và hoàn thành khóa đào tạo trên đại học của mình về nhân chủng học (EHESS-Paris) và Quản lý Phát triển (Asian Institut of Management, Manila). Bà làm công việc nghiên cứu tại Viện Khoa học Xã hội miền Nam (1976-1994), sau đó là giám đốc của "Trung tâm nghiên cứu về Đông Nam Á" của cùng viện này (1994-1999) và chủ nhiệm khoa "Châu Á - Thái Bình Dương" Đại học Hồng Bàng (2001-2007), năm 2000, bà thành lập "Trung tâm Nghiên cứu Phát triển và Đô thị hóa" (CEFURDS). Bà là tác giả và biên tập viên của nhiều sách và bài báo khoa học, nghiên cứu của bà tập trung nhiều năm vào lịch sử và văn hóa đô thị của Sài Gòn - thành phố Hô Chí Minh cũng như về những thách thức của việc quản trị siêu đô thị của miền Nam và các thành phố vệ tinh (Thủ Dầu Một - tỉnh Bình Dương, Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai, v.v.).


Nguồn: Youtube




Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2020

NGÀY ẤY VÀ BÂY GIỜ


1541. Đường Hai Bà Trưng gần giao lộ với Tự Đức xưa và nay.




1542. Nhà hàng Arc - en - ciel góc Tản Đà - Trần Hưng Đạo xưa vá nay.


1543. Đường Phan Đình Phùng trước ngả tư với Đoàn Thị Điểm xưa và nay.


1544. Ngả tư Công Lý - Yên Đỗ xưa và nay.


1545. Hotel Astor góc Nguyễn Văn Thinh - Tự Do xưa và nay.


1546. Góc Nguyễn Huệ - Tôn Thất Thiệp xưa và nay.


1547. Đường Nguyễn Thiếp nhìn từ tự Do xưa và nay.


1548. Đoạn Nguyễn Huệ qua thương xá Tax xưa và nay.


1549. Villa 60 Trần Quý Cáp xưa và nay.


1550. Nhà hàng Moulin Rouge góc Trần Hưng Đạo - Huỳnh Mẫn Đạt xưa và nay.



Nguồn Tim Doling, Paul Blizard, Trung Ngo

Chủ Nhật, 5 tháng 4, 2020




200 năm trước tàu Mỹ tới Sài Gòn:
 Mối giao tình dang dở


Giá mà sau ngày chiến thắng Tây Sơn và thống nhất non sông, cả Gia Long và Minh Mạng cùng triều thần đừng “bế quan tỏa cảng”, đừng “ức thương” thì khách giao thương như người Mỹ không phải thất vọng. Nhất là sau đấy, dân tộc không phải đau buồn vì nước nhà yếu kém không chống lại được quân xâm lược.

Tấm bản đồ cổ khổ A3 mỏng manh được đặt trong chiếc bìa kiếng trong suốt. Người thủ thư ở phòng bản đồ Thư viện Đại học Yale cẩn thận trao cho nó cho tôi với một nụ cười tin cậy.
Đó là một buổi chiều tháng 4 năm 2016, nhân đi dự hội thảo Biển Đông tại Yale, tôi đề nghị thư viện trường cho tôi một đặc ân: được xem bản gốc bản đồ “City of Saigon” in năm 1820! Đây là bản đồ Việt Nam duy nhất được giới thiệu trong sách “Những tấm bản đồ xưa nhất của Đông Nam Á” (Thomas Suarez, 1999), quyển sách mà tôi mua được ở Singapore từ nhiều năm nay. Không ngờ có ngày tôi được cầm trên tay tấm bản đồ của thành phố mình tại chính nơi xuất xứ bên kia bờ đại dương.


Tác giả và tấm bản đồ gốc - Sài Gòn 1820 tại thư viện Đại học Yale tháng 4.2016. Ảnh: TL

Chao ơi, trang giấy croquis xưa vẫn còn nguyên nét mực đen sắc sảo. Tấm bản đồ vẻ thật chi tiết một đường sông ngoằn ngoèo, uốn khúc từ biển vào đến một dãi đất bao la. Tại đấy, ở góc phải bên trên bản đồ, dưới kính lúp, tôi trông thấy rõ nét một tòa thành mang hình ngôi sao nhiều cạnh. Xung quanh tòa thành là những con đường dọc ngang thẳng tắp và những ký hiệu làng mạc, nhà cửa, cây xanh, ruộng đồng chi chít. Tác giả bản đồ là thuyền trưởng John White, ở bang Massachusetts, một trong những người Mỹ đầu tiên đến Sài Gòn và Việt Nam vào đầu thế kỷ XIX.
Ngoài bản đồ, sau chuyến đi ông còn viết một quyển sách với gần 400 trang xuất bản ở Boston năm 1823, mang tên A history of a Voyage to the China Sea - Lịch sử một chuyến đi đến biển Trung Hoa. Quyển sách này hẳn gây một sự chú ý lớn ở phương Tây - vào thời điểm đang háo hức khám phá châu Á, nên ngay sau đó, năm 1824, sách được tái bản tại London với nhan đề cụ thể hơn: A Voyage to Cochinchina - Một chuyến đi tới Nam Kỳ.
Chữ Sài Gòn là tên thành phố được John White dùng xuyên suốt trong quyển sách của mình. Trong sách còn có hai bức tranh trắng đen vẽ cảnh Sài Gòn và một con tàu của nhà Nguyễn (1). Cả tấm bản đồ và quyển sách đều trở thành cánh cửa quý báu dẩn chúng ta đi ngược lại thời gian, ngắm xem Sài Gòn 200 năm trước và cuộc giao tình Việt Mỹ đã bắt đầu như thế nào.

Thành Gia Định thân thiện và uy nghi

Buổi sáng hôm ấy - ngày 7.10.1819, nhật ký hải trình của John White ghi có có mưa nhẹ. Hai con tàu buồm to lớn mang lá cờ lạ lẩm - sao trắng và vạch đỏ, từ Cần Giờ bắt đầu đi vào sông Bình Giang (tên xưa của sông Sài Gòn). Cả hai được phép cập bến tại bán đảo Thủ Thiêm, đối diện dãy phố Bến Nghé của Thành Gia Định - tên chính thức của Sài Gòn.
Bức tranh đầu tiên trong sách của John White đã miêu tả khung cảnh thanh bình hai bên bờ sông. Đó là cảnh thuyền buồm và ghe chèo đi lại tấp nập. Những người dân địa phương đội nón lá xoay tròn, có chóp nhọn xinh xắn. Dọc bờ sông là những căn nhà lá hiền hòa.
Trên bờ Bến Nghé có một tòa nhà mái ngói xòe rộng. Điểm xuyết chung quanh thành phố là những cây dừa cao, ruộng đồng và chân trời bát ngát. Có lẽ trong mắt người Mỹ xa xăm, ngay từ giây phút “chạm ngõ”, Sài Gòn đã mang đến một cảm giác vui tươi, dễ mến.


Một phần bản đồ City of Saigon 1820 và hình vẽ con tàu Franklin của Iohn White (ảnh ghép - PT).

Sau 48 giờ chờ đợi, ngày 9.10, một ngày nắng ráo, đoàn khách Ma Ly Căn (phiên âm Hán Việt từ American trong sử nhà Nguyễn) được mời xuống thuyền nhỏ sang sông, bước qua thành phố lớn. Thuyền trưởng John - 37 tuổi, đi cùng các sĩ quan trong bộ quân phục lạ lẩm và oai vệ.
Phiên dịch của đoàn là một thủy thủ biết nói tiếng Bồ Đào Nha. Các quan nhà Nguyễn lúc đó không có người giao dịch bằng tiếng Anh. Xem ra, người Bồ, người Hà Lan và người Pháp là người phương Tây đến Việt Nam thời ấy nhiều nhất. Hai con tàu Franklin và Marmion của thuyền trưởng John White chính là những chiếc tàu Mỹ đầu tiên đến Sài Gòn và sẽ lưu tại đây đến bốn tháng (2).
John ghi lại, 9 giờ sáng hôm đó, trong ánh nắng thiêu đốt, vẫn có đông đảo người dân Gia Định - từ hàng trăm ghe thuyền và các phố phường dọc bờ sông, tụ tập ngắm nhìn đoàn khách da trắng. Mùi cá khô và có lẽ là mùi nước mắm từ các ghe thuyền - John viết một cách hóm hỉnh, “vẫy chào” (salute) đoàn khách.
Theo John ký âm, người dân reo hò:  don-ong-olan, olan ben tai! Phải chăng là “đàn ông Ô-lăng” và “Ô-lăng bên Tây”? Chữ Ô-lăng là phiên âm của Holland - Hà Lan, đất nước đã buôn bán với cả Đàng Trong và Đàng Ngoài từ thế kỷ XVII. Một số người dân còn hồn nhiên sờ vào quần áo hay chạm tay vào trang phục mới lạ của khách.
Từ bến tàu, đoàn bắt đầu đi bộ qua một ngôi chợ bề thế (great bazar) đầy ắp nông sản và các loại hàng hóa. Tiếp theo chợ, là một con phố san sát nhà gỗ, nhà ngói một tầng, có sân nhỏ phía trước. Và rồi, đoàn đi đến một chiếc cầu đá dẫn vào cổng thành phía Đông Nam.
Có lẽ đoàn khách Mỹ đã đi qua Chợ Vải (chính là chợ Bến Thành Xưa ở vị trí kho bạc ngày nay) và đi dọc con kênh - cũng mang tên Chợ Vải (nay là đại lộ Nguyễn Huệ). Từ đó khách rẽ qua con đường chạy dọc chân thành Gia Định (đường Lê Thánh Tôn) để đến cổng Ly Minh - địa danh xưa là Đồn Đất, nay là vị trí bệnh viện Nhi Đồng 2.
Qua cổng thành, đoàn khách Mỹ được dẫn vào khu trung tâm. Tại đấy, có một cung điện đồ sộ với nhiều bậc thang dẫn lên bằng gỗ. Đó chính là nơi ở của vua Gia Long trước đây. Gần cung vua là cung hoàng hậu và các con vua. Người hướng dẫn cho John biết nơi này bây giờ dùng làm Văn khố, nơi lưu trữ công văn và các ấn triện.
John nhận ra trên mái ngói các cung điện là các tượng rồng và các linh vật Á Đông. Đoàn khách Mỹ còn trông thấy một tòa tháp canh đồ sộ, có tầng lầu vuông vức, bên trong là một đại hồng chung. Kế đến, đoàn khách được đưa đến dinh Tổng trấn cũng là một tòa nhà uy nghi, sang trọng với nhiều cột nhà sơn son bóng loáng mỹ lệ - John gọi là Rosewood. Khi ra về, đoàn khách còn đi ngang một pháo đài trên mặt thành, nơi đặt nhiều đại bác lớn nhỏ (3).

Miếng trầu làm đầu câu chuyện

Lê Văn Duyệt, bậc khai quốc công thần của Triều Nguyễn, là Tổng trấn Gia Định từ năm 1812. Song, trong ngày đầu tiên thăm viếng, đoàn khách Mỹ đã không gặp được Lê Văn Duyệt. Vào thời điểm ấy, từ năm 1815, Lê Văn Duyệt đã được vua Gia Long triệu hồi về Huế, đảm đương nhiều việc quốc gia đại sự.
Thay cho Lê Văn Duyệt, quan Tổng trấn Nguyễn Huỳnh Đức là người tiếp đoàn. Ông ân cần hỏi thăm sức khỏe các khách Mỹ, hỏi chuyện chi tiết hành trình từ Mỹ đến Việt Nam. Đoàn khách được mời uống trà, ăn mứt và kể cả dùng trầu. Miếng trầu là đầu câu chuyện.
Trong các cuộc gặp gỡ sau này, khách Mỹ đều thấy trầu được người Việt Nam dùng nhiều như thuốc lá ở phương Tây. Không rõ John White và các vị khách có thử dùng trầu hay không nhưng câu chuyện trao đổi với chủ nhà đã diễn ra suôn sẻ. Thuyền trưởng John cho biết, nước Mỹ tân lập - tuy ở rất xa vẫn mong muốn buôn bán với Việt Nam. Họ đã nghe tiếng Việt Nam nổi tiếng về gạo và nhiều loại nông sản khác.
Lần này, hai tàu Mỹ muốn mua nhiều nhất là đường thô và tơ lụa với số lượng lớn. Tổng trấn Nguyễn Huỳnh Đức cho biết sẽ trình báo ngay cho triều đình Huế các đề nghị này. Trong lúc chờ đợi, ông cho phép đoàn khách Mỹ ở lại Sài Gòn để tìm hiểu hàng hóa và sinh hoạt địa phương.
Các ghi chép của John về những ngày tiếp theo cho thấy các khách Mỹ được đi lại thoải mái trong thành phố. Họ đã đi thăm nhiều đền chùa và nhà thờ (4) và được tự do tiếp xúc với dân và cả những người nước ngoài hiếm hoi sống tại Sài Gòn. Bao gồm hai cố đạo người Ý và một nhà buôn đến từ Macao. Khách Mỹ còn được Tổng trấn Nguyễn Huỳnh Đức và các quan chức khác mời đến nhà chơi.
Tại đây, lần đầu tiên người Mỹ dùng thử và mê ngay thứ rượu làm từ gạo mà John gọi là whiskey Việt Nam - rượu đế. Để đáp lễ, đoàn khách Mỹ mời các quan chức Việt Nam lên tàu Mỹ cũng như mời đến nhà trọ của mình để thưởng thức ẩm thực Mỹ và phương Tây. Điều lý thú, một vị quan địa phương đã cho John xem một chai mù-tạt made in England đã dùng xong và cho biết vua Gia Long rất thích mù-tạt châu Âu.


Quân phục sĩ quan hải quân Mỹ đầu thế kỷ XIX. Ảnh: TL

Đáng chú ý hơn cả, đoàn được đi thăm một cơ sở quân sự quan trọng - Xưởng Chu Sư, sau này là công xưởng Ba Son, nơi sửa chửa và đóng tàu chiến của triều đình. Những cuộc thăm viếng và đi lại kể trên cho thấy chính quyền Gia Định hiếu khách và cởi mở. Mặt khác, nó còn là bằng chứng về việc e dè và nghi ngại người nước ngoài trong thời Gia Long chưa diễn ra. Cũng có thể nước Mỹ là “xứ lạ”, lần đầu tiếp xúc với Việt Nam nên được chính quyền cả trung ương và địa phương có phần "biệt đãi" chăng? 

Sài Gòn phồn thịnh, quy hoạch đâu ra đó

Trong thời gian lưu lại Sài Gòn, đoàn khách Mỹ vẫn có may mắn được gặp Lê Văn Duyệt khi ông từ Huế trở lại Gia Định trong ít ngày. John đã hỏi dò vị “Phó Vương” và các cha xứ Ý về dân số Việt Nam và Sài Gòn. Qua đó, John được biết cả nước ước chừng có từ 10 - 14 triệu dân. Riêng Sài Gòn có hơn 180 ngàn dân, trong đó có mười ngàn người Hoa.
Đây là một con số lớn đáng kể so với dân số thành thị nhiều nước Á Đông và ngay cả ở Mỹ thời ấy. Theo John ghi chép, dân cư Sài Gòn sống tập trung ven sông và các kênh rạch. Nhà dân có đủ nhà lá, nhà sàn các kiểu. Người giàu ở trong các nhà sàn lớn hoặc nhà ngói khang trang.
Đường sá trong thành phố đan xen thẳng thớm, nhiều đường khá rộng. Dọc theo bờ kênh hướng về miền Tây có một loạt nhà kho to lớn, nơi thuyền chở gạo lên xuống nhộn nhịp. Phía Bắc và Tây Bắc Sài Gòn (Tân Bình, Tân Phú, quận 10 và 11 hiện giờ) là đất trống mênh mông. Có một khu lớn là đất cho nghĩa trang - John ghi hẳn trên bản đồ: cemetery. Dọc con đường ra phía Tây, hàng loạt cây Palmaria - loại cây cọ, cây dừa nước được trồng thẳng tắp, ngay ngắn làm John liên tưởng đến những đại lộ viền đầy cây xanh của Paris. Ông nhận xét cây Palmaria dường như là cây ưa thích nhất của người dân Việt vì dọc theo các bờ kênh đều trồng loại cây này.
Là một sĩ quan hải quân, John đặc biệt quan tâm đến xưởng Chu Sư và cho biết mình đến thăm nơi đây nhiều lần. Ông miêu tả bến tàu hải quân và thủy xưởng đặt bên một con rạch lớn ở phía Đông Bắc thành phố - rạch Thị Nghè. John chứng kiến thủy xưởng đang đóng hai chiến hạm theo kiểu châu Âu với sự giám sát của các chuyên gia Pháp.
John cho rằng quy mô và phương tiện thủy xưởng này không khác các xưởng đóng tàu ở châu Âu. Điều làm John ngạc nhiên và thích thú cho rằng gỗ teak - gỗ đóng tàu của Việt Nam cực tốt, hàng đầu thế giới. Không biết có quá lời chăng nhưng John khen người Việt Nam là most skilful naval architects - những kiến trúc sư hải quân khéo giỏi nhất.
John ghi nhận lợi thế của Sài Gòn là thông thương với biển dễ dàng, đường sông uốn khúc nhưng sâu rộng. Mặt khác, Sài Gòn còn có nhiều đường kênh rạch đi ra các đồng bằng chung quanh và dẫn đến Campuchia. John ghi nhận hơn 26.000 người đã được huy động để đào một con kênh to lớn thông Sài Gòn với phía Tây, có lẽ là kênh Bến Nghé, còn gọi là kênh Tàu Hũ.
Đáng chú ý hơn nữa, John nhận xét tòa thành Gia Định - thành Quy mà ông gọi là Military City - thành phố nhà binh, thực sự là một công trình phòng thủ vững chắc. Nó có nhiều pháo đài, nhiều đại pháo và có thể chống đỡ lâu dài với các đội quân châu Âu! Thật trớ trêu, chỉ 16 năm từ khi John rời Sài Gòn, sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (cố thủ 3 năm 1833 - 1836 trong thành), vua Minh Mạng đã cho phá bỏ thành Quy để xây thành Phụng với quy mô nhỏ hơn. Có thể đó chính là một trong những nguyên nhân quan trọng về kỹ thuật quân sự làm cho thành Gia Định thất thủ nhanh chóng trước cuộc tấn công của người Pháp, vào năm 1859.

Giao thương khó khăn

John White còn ghi chép nhiều điều cụ thể và thú vị về Sài Gòn cũng như người Sài Gòn. Tuy nhiên, John và đoàn khách Mỹ đến Việt Nam không phải để du lịch hay khảo sát dân tộc học. Mục tiêu duy nhất của đoàn là khảo sát kinh tế và tìm cách khởi động mua bán. Sau một thời gian ở Sài Gòn, đoàn khách Mỹ còn được ra Đà Nẵng và Huế để gặp gỡ chính quyền trung ương và sau đấy trở lại Sài Gòn để lấy hàng.
Song, cuộc giao thương qua ghi chép của John White, đáng tiếc vẫn gặp nhiều trắc trở.
Trước nhất là vì đoàn đến không mang theo “quốc thư” của Chính phủ Mỹ, cũng không có người trung gian giới thiệu nên không có cuộc đàm phán chính thức nào về quan hệ buôn bán giữa hai nước. Kế đến, mọi việc mua bán dù ở góc độ thương nhân cũng phải qua duyệt xét của vua và triều đình Huế nên càng mất thời gian chờ đợi.
Thêm nữa, việc chuyển đổi đồng tiền khá phức tạp. Ở Việt Nam chỉ thông dụng đồng bạc Tây Ban Nha, do vậy khách Mỹ phải chuyển đổi từ đô la Mỹ sang tiền Tây ban Nha, rồi mới đến tiền Quan của nước chủ nhà. Hai bên không nhất trí ngay được tỷ giá, phải thương thảo nhiều lần. Trong lúc ấy, việc phiên dịch phải thông qua tiếng Bồ Đào Nha và cũng không có người dịch chuyên nghiệp.
Mặc dù vậy, trở ngại giao thương lớn nhất chính là thủ tục mua bán và tập quán làm việc của hai bên không giống nhau. Đầu tiên là việc quan nhà Nguyễn tính “thuế neo thuyền” theo kích thước hàng hóa mà tiêu chuẩn thước đo không nhất quán. Giữa khách và chủ phải thảo luận nhiều lần (có lẽ “tục du di” trong khai báo hải quan thời hiện đại đã có nguồn gốc từ đây chăng!).
John còn thấy rất phiền hà khi các quan thương chánh lên tàu cứ hay đòi xem “lễ vật” và ngỏ ý muốn có… quà. Ngoài ra, việc mua bán lại thực hiện theo kiểu “giao kèo miệng”, giá cả lên xuống tùy hứng. Đằng sau các trở ngại ấy, còn có một thực tế cay đắng là Việt Nam vào thời đó chưa có nhà buôn chuyên nghiệp, chưa có thương mại tự do. Các khách Mỹ chỉ gặp được các lái buôn trung gian là một vài người Hoa, hầu như họ độc quyền mua bán nhưng chính họ cũng không có sẳn nguồn hàng lớn. Trong khi đó, nhà Nguyễn không có cơ quan chuyên trách buôn bán và xuất khẩu.
Triều đình khi gặp khách Mỹ cũng như khách phương Tây chỉ đặt mua vũ khí và vật dụng cho nhà vua!

Tranh vẽ Sài Gòn trên bến dưới thuyền trong sách của John White.

Đọc những chi tiết này trong sách John White, tôi càng thương cảm, nhớ lại cảnh giao thương hạn hẹp, nhiều oái ăm của Việt Nam trong thời kỳ bị “bao cấp” và bị “cấm vận” (1975 - 1995). Giá mà sau ngày chiến thắng Tây Sơn và thống nhất non sông, cả Gia Long và Minh Mạng cùng triều thần, đừng “bế quan tỏa cảng”, đừng “ức thương” thì khách giao thương như người Mỹ không phải thất vọng. Nhất là sau đấy, dân tộc không phải đau buồn vì nước nhà yếu kém không chống lại được quân xâm lược. Giá mà Việt Nam sớm giao thương với Mỹ và thế giới phương Tây công nghiệp thì lịch sử chắc chắn sẽ đổi khác như nước Nhật thời Minh Trị.
Ngày 1.2.1820, hai con tàu Mỹ rời Sài Gòn về Mỹ mang theo một số đường thô và lụa mua được, sau mấy tháng kiên nhẫn tìm kiếm. Đoàn còn mang theo quà tặng của Sài Gòn là những bộ trang phục địa phương, giống lúa cao sản nổi tiếng của Nam kỳ và cả một chú cọp con. Rất tiếc, hạt giống lúa và chú cọp trên đường về Mỹ xa xăm đã không giữ được. Càng tiếc hơn nữa, mối giao tình mới mở đầu giữa hai nước đã không nảy nở tiếp. Từ tháng 3.1820, vua Gia Long qua đời, vua Minh Mạng lên ngôi, cánh cửa Gia Định và Việt Nam đã bị khép chặt lại. Người Mỹ và nhiều nước phương Tây muốn giao thương với Việt Nam đều bị cự tuyệt hay chỉ chấp nhận nhỏ giọt.
Và rồi, người Mỹ chỉ trở lại Sài Gòn, lập lãnh sự quán, bán được nhiều máy móc, xe hơi và xăng dầu cho Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Nhưng lúc ấy, Sài Gòn và cả Đông Dương đã trở thành thuộc địa của người Pháp.
Dẫu sao, sự kiện hai con tàu Mỹ và thuyền trưởng John White đến Sài Gòn 200 năm trước là một kỷ niệm đẹp đáng nhớ, để lại nhiều bài học đáng suy ngẫm. Mong rằng một ngày không xa, ở bến Thủ Thiêm hoặc Cột cờ Thủ Ngữ sẽ có một chiếc bảng đồng lưu dấu sự kiện này!
                                                                                                    Phúc Tiến

Nguồn: https://nguoidothi.net.vn/200-nam-truoc-tau-my-toi-sai-gon-moi-giao-tinh-dang-do-22206.html


  Tết Sài Gòn trăm năm trước ra sao?   Biết những gì xảy ra trong quá khứ xa xưa dường như là mơ ước muôn đời của con người. Bởi trong c...