Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2015

CÔNG VIÊN CHI LĂNG VÀ CÔNG VIÊN VẠN XUÂN

Ở Sài Gòn tồn tại nhiều công viên, chúng được coi như là lá phổi của thành phố, là nơi thư giản cho người dân nơi đây nhưng mà giờ đây chúng bị khai tử gần hết. Chúng là biểu tượng một thời tại nơi đây, một hình ảnh khó quên trong ký ức của mọi người Sài Gòn. Tôi sẽ dẫn các bạn theo dòng thời gian về hai công viên Chi Lăng và Vạn Xuân; mặc dù chúng có rất ít tư liệu nhưng tôi cố gắng tìm trên mạng để đưa tới các bạn.

1. Công viên Chi Lăng:

Công viên Chi Lăng nằm tại ngả tư Tự Do - Nguyễn Du tới ngả tư Tự Do - Lê Thánh Tôn và ngó sang quán La Pagode. Tôi kiếm được một tư liệu liên quan tới công viên trên trang blog Việt Nam hình ảnh xưa của Nguyễn Thanh Nhan (trích một phần): 

Sài Gòn xưa - Vườn P. Pages


 Chú thích: Le haut de la rue Catinat (Đầu đường Catinat) có thể làm ta nhầm vị trí trong ảnh với ngã tư Đồng Khởi - Nguyễn Du trong một bức ảnh cùng chú thích, và đó chưa phải là trường hợp duy nhất, một bức ảnh ngã tư Đồng Khởi - Lê Lợi cũng có chú thích như vậy. Vậy đây là đoạn nào trên đường Catinat? Tường rào giật cấp bên trái cho thấy độ dốc của đoạn đường này và dấu vết của nó chính là tường chận đất của Công viên Chi Lăng sau này. Ngôi nhà bên phải làmột phần của Dinh thượng thơ có cổng quay ra đường La Grandière (Lý Tự Trọng). Do đó có thể xác định đây là ngã tư Catinat (Đồng Khởi) và La Grandière (Lý Tự Trọng)


Hướng nhìn về Nhà hát thành phố, vườn P. Pages (công viên Chi Lăng sau này) nằm bên trái đường Catinat, giới hạn bởi ngã tư Catinat (Đồng Khởi) - La Grandière (Lý Tự Trọng) và ngã tư Catinat (Đồng Khởi ) - D'Espagne (Lê Thánh Tôn). Khoảng xanh này được người Pháp xây dựng và khai trương năm 1924, như là một cách để tận dụng con dốc trên trục đường sang trọng nhất Sài Gòn. 


Vị trí người chụp lùi sâu hơn vào bên trong vườn.
Tòa nhà 6 tầng phía đối diện vẫn còn đến ngày nay.


Giao lộ Catinat (đường chạy từ trái sang phải) và d'Espagne (đường chạy về hậu cảnh). Đối diện tòa nhà  6 tầng nlà ngôi nhà mà thời gian sau này có quán cafe La Pagode rất nổi tiếng.



Ngôi nhà đối diện vườn P.Pages qua trục đường d'Espagne

là cửa hàng Champagne Moët & Chandon


Căn cứ vào tấm card của cafe La Pagode thì ngôi nhà bên phải bức ảnh có địa chỉ 211 -213 Catinat (sau này quen gọi là chung cư 213 Đồng Khởi), trong tòa nhà này có căn hộ của trùm mật thám Pháp Marshel Bazin, dưới tầng trệt là dãy cửa hàng sầm uất.


Toàn cảnh ngã tư Catinat - D'Espagne. Từ trái qua phải bốn góc lần lượt là: Vườn P.Pages, ngôi nhà số 49 đường D'Espagne (hiện giờ là trụ sở Saigontourist), cafe La Pagode, và chung cư 213 Catinat. Một bức ảnh khác chụp ngôi nhà số 49 đường D'Espagne từ giữa ngã tư 


Đã có thể nhận ra biển hiệu Cafe La Pagode



Nhìn về La Pagode và chung cư 213 Catinat.


Nhìn về hướng Nhà hát lớn. 


Nhìn về hướng Nhà thờ Đức Bà


Đã có một thời khoảng xanh này rất nhiều cây cổ thụ


Tòa nhà sau công viên là Bộ Giáo dục và Thanh niên VNCH










Vì quá ít tư liệu nói về nó nên không có nhiều thông tin chỉ biết nó được khánh thành ngày 19 tháng 1 năm 1935 bởi ông Pierre André Pagès thống đốc Nam kỳ qua tấm biển bên bức tường của công viên. Riêng trong đó có ghi ông Craste là kiến trúc sư, không biết ồng này có phải là người thiết kế công viên hay không.


Năm 1940 chính quyền Pháp biến công viên này thành vườn trẻ em (Jardin d'enfants) trong đó có xích đu, cầu tuột chủ yếu phục vụ con em các viên chức Pháp. Cùng thời gian đó ở vườn bách thú cũng có một vườn trẻ em.




Nay công viên này không còn nữa thế vào đó là tòa nhà Vincom mặc dù phía trước tòa nhà người ta chừa một khoảng trống của một vông viên mới nhưng nó không thể thay thế hình ảnh của công viên Chi Lăng ngày nào. Sau đây chúng ta sẽ đọc cảm tưởng tiếc nuối của người dân về công viên này:

 Công viên Chi Lăng... nay còn đâu!
Bài: Phúc Tiến; Ảnh: Trần Sóc
Tháng 2 năm 2010

Có ai còn nhớ ngay trên đường Đồng Khởi – con đường sang trong nhất Sài Gòn – từng có một công viên? Đó là một “vườn treo” bồng bềnh trên con dốc góc Đồng Khởi – Lê Thánh Tôn. Vốn dĩ, Sài Gòn là một thành phố có rất ít những con dốc, có lẽ người Pháp đặt ở đây một công viên để làm tăng dấu ấn của con dốc này – một chút lãng mạn hoài niệm đồi Montmartre ở Paris chăng? Trên “vườn treo” có hàng cây cổ thụ rất Việt Nam, hàng thông xanh và bãi cỏ xanh rất Tây. Có tiếng chim và hoa, có ghế đá và những chiếc dù điểm xuyết đây đó đem cho khách cảm giác lâng lâng, thư thái. Ngồi chơi trong công viên này từ một góc không gian tĩnh lặng, ta có thể ngắm nhìn dòng đời nhộn nhịp trôi qua. Có thể “nháy mắt”chào tháp nhà thờ Đức Bà cao vút, chào vẻ uy nghi của tòa thị chính quen thuộc. Với du khách đang dạo bước khám phá những cửa hiệu san sát trên con đường một tời nổi tiếng với tên gôi quý phái “Catinat” thì công viênn bỗng hiện ra như một điểm dừng thú vị bất ngờ. Với những người làm việc công sở gần đấy, hẹn nhau uống cà phê hay ăn trưa ở công viên rất thú vị mà không quá cao sang.
Chiều tối đến, tại sân khấu nhỏ giáp bờ tường ngôi công thự Sở Giáo dục – đào tạo, thỉnh thoảng lại có hòa nhạc, có văn nghệ đông đúc người xem. Nhất là dịp Noel và tết, nơi đây sáng choang đèn, đông vui người lớn và trẻ em đến chụp ảnh. Tôi nhớ ờ gần một bậc thang, lối lên công viên, nơi bờ tường ốp đá tảng theo kiểu tổ ong, có một tấm bảng bằng gang khắc dòng chữ kỹ niệm khai trương công viên này. Đó là năm 1924! Lạ thật, vào năm ấy Catinat – con phố số 1 của Sài Gòn “ Hòn ngọc Viễn Đông” – tấp nập các cửa hàng, khách sạn. Thời  đó kinh tế đang phồn thịnh, giá đất giá nhà cao chót vót không kém bây giờ nhưng người ta vẫn giữ miếng đất ở con dốc này làm công viên. Vẫn giữ “vườn treo” cho con phố thương mại có thêm nét nhân văn. Vẫn giữ cho giới trẻ Sài Gòn thêm một địa chị dạo chơi và hẹn hò. Sau 1954, công viên đó đổi tên là Chi Lăng, cái tên hào hùng, càng thêm ấn tượng khó quên.
Vậy mà, bây giờ công viên ấy đâu rồi? Chỉ mới hơn một năm thôi, công viên Chi Lăng đã…bay lên trời. Nguyên một khu phố lớn ba mặt  đường, bao gồm cả công viên Chi Lăng và ngôi công thự sở Giáo dục – đào tạo bị quay lại sau hàng rào. Người ta tưởng như công viên được tu bổ nưung không, tất cả được phá ra, đào xới trở thành công trường của cao ốc Vincom khổng lồ. nhìn hình phối cảnh cao ốc lộng lẫy được treo ở hàng rào, người ta có thể thấy hay lạ. Song, để ý kỹ thì có thể nhận ragò đất ngày trước, “vườn treo” ngày trước nay được san bằng trở thành một cái sân mênh mông bên ngoài cao ốc. Nghe nói dưới mặt bằng sân là một khu shopping ngầm băng tới thương xá Eden. Hay đấy, nhưng công viên đâu rồi? Hàng cây cổ thụ, cây thông, bãi cỏ xanh, những chiếc nghế đá, sân khấu nhỏ liệu có được dựng lại?
Người dân Sài Gòn không cho phép xóa đi cuộc sống của một công viên xanh và nhân văn để thay bằng một cái sân bêtông cho dù nguy nga, tráng lệ; không cho phép đánh đổi  một “vườn treo” tự nhiên rộng mở để lấy một “đại sảnh” lộng lẫy phụ trợ cho tòa cao ốc. Những ngày cuối năm 2009, tòa nhà Vincom đã bắt đầu quảng cáo trên  báo rằng đây là cao ốc văn phòng cho thuê và trung tâm mua sắm có hai mặt tiền. Tuy vậy chúng ta vẫn hy vọng rằng công viên 86 năm tuổi kia, một dấu tích đẹp của thế hệ trước sẽ được khôi phục.


 2. Công viên Vạn Xuân:
Một công viên nữa là công viên Vạn Xuân nằm giữa hai ngả tư Pasteur - Trần Quý Cáp và Pasteur - Phan Đình Phùng nhìn đối diện đại học kiến trúc Sài Gòn và phòng đọc sách thiếu niên. Tôi có nhờ anh Tim Doling kiếm dùm tôi tài liệu về công viên Vạn Xuân nhưng trước tiên anh đưa cho tôi 4 tấm bản đồ có vẽ công viên Vạn Xuân. 


Trên bản dồ năm 1923 thì công viên này chiếm toàn bộ khu vực sân vận động Phan Đình Phùng sau này (chổ hình vuông màu xanh lá cây).



Trên bản đồ 1946 và 1952 thì nó đã bị cắt bớt ( trong viên Vạn Xuân trước năm 1975 còn sót một công trình đó là trạm biến điện của công ty CEE)


Trên bản đồ 1959 - 1960 tại ô hình 63 công viên này được đặt tên Vạn Xuân

Ngày nay công viên biến mất nhường chổ cho nhà thi đấu Phan Đình Phùng (nhà thi đấu này được xây trước năm 1975 và được mở rộng sau này). Chúng ta sẽ thấy những cảm nghĩ của người Sài Gòn về công viên này:
Sài Gòn những năm 1960-1970 - Khung cảnh thơ mộng trong bức hình đó chính là công viện Vạn Xuân nơi góc đường Pasteur - Trần Quý Cáp. Vườn hoa nhỏ Vạn Xuân nơi phía trước Trường Tiểu học Trần Quý Cáp và Đại học Kiến Trúc Sài Gòn. Sau năm 1975 khuôn viên vườn hoa ấy đã không còn và đã bị phá bỏ, và mảnh đất ấy sau đó đã bị chiếm và trưng dụng đưa vào khuôn viên khu thi đấu Thể thao Phan Đình Phùng. Nơi đây có lẽ đã từng mang đến cho chúng ta rất là nhiều kỷ niệm, có những cậu nam sinh trường Lasan Taberd, Võ Trường Toản hay những cô nữ sinh trường Marie Curie, Gia Long, Trưng Vương đã từng đến đây dạo chơi, mơ mộng về những khung trời xa lạ, và mang trong mình những hoài bão, ước mơ thật lớn lao...!!! (Sài Gòn xưa và nay)

q-nguyen 4 năm 
Ko biết bạn bè LQD cũ còn nhớ những ngày xưa, trưa hè chia nhau đánh lộn ở đây.
Khi lớn hơn vào tuổi cặp kè, a say mê nhìn tóc em bay lúc mình đi dạo...ôiiii kỷ niệm của một thời.
Cám ơn đã chia xẻ hình. (Flick Mạnh Hải)

ongthecong 3 năm
nơi đây , có cậu học sinh Taberd thường hay đến ngồi mơ tưởng đến những khung trời xa lạ ! (Flick Mạnh Hải)





Thứ Ba, 23 tháng 12, 2014

NHỮNG TẤM HÌNH MỘT THỜI XA XƯA

















  Hình do các bạn:
 Trần Tử Lành, Nguyễn Văn Hoàng, Valia Thu Hà, Phuong Luon,...cung cấp




Thứ Hai, 22 tháng 12, 2014

MÙA GIÁNG SINH 2014 
NHỚ VỀ NHỮNG MÙA GIÁNG SINH XƯA

                    Lại một mùa giáng sinh nữa về, một năm nữa sắp ra đi. Chúng ta càng ngày già đi phải không các bạn? Mỗi lần giáng sinh về lòng tôi dâng lên một niềm nhớ nhung về những ngày tháng đã qua đi. Đó là những mùa giáng sinh mà tôi còn khoác trên mình chiếc áo học trò; những mùa giáng sinh mà tiếng súng vẫn còn vang lên đó đây trên quê hương. 
                   Ngày đó Noel nằm trong trí tưởng tượng của tôi qua những bài lecture hay recitation với những ngôi nhà chìm ngập trong tuyết, những cây thông vi vu trong gió lạnh và những câu chuyện cổ tích le petit poucet, ông già noel cùng đám tuần lộc đi phát quà,...hay mơ màng qua những tấm thiệp mua được của người bán thiệp cũ bên hông trường Colette và những hang đá có chúa hài đồng bên các con cừu hà hơi ấm. Tôi còn nhớ ba tôi dẫn tôi chơi mỗi đêm noel đến qua nhà thờ Tân Định hay xuống dãy đường Nguyễn Huệ trong tiếng nhạc giáng sinh, nhìn những cây thông trang trí dây kim tuyến và đèn màu rực rỡ, nhìn một cách thèm thuồng những món đồ chơi xinh xắn mà không bao giờ có cơ hội sở hữu được chúng. Tôi còn nhớ mỗi mùa giáng sinh như vậy tôi thường đạp xe ra đường Phan Đình Phùng tới chổ sở lâm nghiệp xem những cây thông được mang từ Đà Lạt về bán.


                      Ngày đó Noel là một niềm vui của mọi người, là một giây phút yên bình không tiếng súng để mọi người hân hoan chào đón ngày chúa ra đời. Ở xóm của tôi ít có nhà theo đạo thiên chúa nên không khí đón Noel không rộn rịp bằng những xứ đạo như khu ngả ba Ông Tạ, ngả tư Bảy Hiền hay các xứ đạo người Bắc di cư dọc trên đường đi Đà Lạt. Đêm Noel mọi người khoác áo quần mới lũ lượt tới nhà thờ đi lễ trong ánh đèn trang trí rực rỡ của các căn nhà hai bên đường; còn lại những người không theo đạo cũng tràn ra khỏi nhà đi chơi đêm.


                     Còn tại Sài Gòn chung quanh nhà thờ đầy ắp dòng người nối đuôi theo những con đường Thông Nhất, Tự Do, Nguyễn Huệ, Lê Lợi trong không khí se lạnh đêm giáng sinh cười nói vang lên. Những ai không thích đi thì ngồi trong quán cà phê Givral, Pole Nord, la Pagode nhìn ra dòng người hay thích la cà thì phóng xe theo các con đường tấp nập. Trời về khuya khi nhà thờ xong lễ dòng người cũng thưa thớt dần trả lại sự yên bình hiếm hoi cho thành phố.


                   Đó là không khí Noel ngày xưa. Ngày nay cái không khí ấy vẫn còn với những cửa hàng bày bán đủ loại đồ giáng sinh hơn ngày xưa, người người vẫn đổ ra đường nhưng trong tôi vẫn tìm hoài cái không khí thật như ngày nào không còn nữa.

                                 Bài Mon beau sapin là bài tôi rất thích hồi còn nhỏ


                                         Bài Silent night (Đêm thánh vô cùng)

Thứ Bảy, 20 tháng 12, 2014

TỪ KHÁM LỚN ĐẾN THƯ VIỆN QUỐC GIA SÀI GÒN

                  Những thế hệ của các bạn cũng như tôi khi nghe đến cái tên này đều không hình dung được nó to lớn cỡ nào vì nó đã bị phá bỏ vào năm 1957 để thế vào một công trình khác mà tôi sẽ kể vào đoạn sau; nhưng với các thế hệ cha ông của chúng ta khi nhắc tới từ "khám lớn" ai nấy cũng rùng mình kinh sợ. Nó là nơi giam giữ thứ nhất là những người chống đối lại chính quyền thực dân Pháp bất kể những người đó là cộng sản hay không cộng sản, thứ hai là những thành phần hình sự nỗi cợm, thứ ba là nó giam giữ bất cứ tuổi tác nào. Có rất nhiều tên tuổi đã từng bị giam giữ ở đây mà trong đó một sự kiện nổi tiếng là Lý Tự Trọng một tù nhân cộng sản đã bị xử chém, chính vì vậy mà chính quyền thành phố mới bỏ tên đường Gia Long để đặt vào đó tên Lý Tự Trọng.
                    Những hình ảnh về khám lớn rất hiếm để minh học cho bài viết này nếu các bạn muốn xem những hình ảnh bên trong khám lớn hãy đọc cuốn viết về khám lớn của ông Vương Hồng Sển.

                   1. Sơ lược lịch sử:
                        Năm 1886, người Pháp xây dựng tại trung tâm thành phố Sài Gòn một nhà giam tù nhân, gọi là Khám Lớn Sài Gòn (Maison Centrale de Saigon) do kiến trúc sư A. Foulhoux, đến năm 1890 thì xây xong. Khám này thay thế cho một khám đường đã có trước được xây dựng bởi J. B. Chatian năm 1863. Công trình tọa lạc trên nền đất mà xưa kia là chợ Cây Da Còm. Theo học giả Trương Vĩnh Ký, sở dĩ chợ có tên là Cây Da Còm, vì nó họp dưới gốc một cây đa nhánh còm, lá gie khòm xuống mặt đất. Ngày xưa, nơi đây chuyên bán trống, bán lọng, yên ngựa và mũ tú tài và có một xưởng đúc tiền. Ban đầu, khám dài khoảng 30m và rộng 15m, có lối đi hẹp ở giữa hai dãy khám, mặt chính được rào bằng những song sắt, vách tường sơn đen, chỉ chừa cửa sổ nhỏ ở trên cùng, rất ngột ngạt. Bên trong phòng giam, nền tô bằng xi măng, các tù nhân đều nằm trên sàn, một chân đút vào cái cùm dài suốt chiều dài xà lim. Ở đây, còn có một xà lim (cellule) dành cho tù nhân lãnh án tử hình. Đó là một hầm 3mx5m, ba mặt là tường kín và mặt còn lại là một cửa sắt có đục lỗ nhỏ. Thiết kế như vậy, cốt vừa để thông hơi, vừa để lính canh từ bên ngoài có thể quan sát bên trong phòng giam. Vào đêm 14 ngày 15 tháng 2 năm 1916, một nhóm vũ trang đã tấn công vào khám lớn không thành công giải thoát cho các tù nhân.

                    Tuy nhiên, vì thiếu ánh sáng, vệ sinh lại kém nên tù nhân dễ bị bệnh tật và thực tế ở đây luôn phát sinh các loại bệnh nguy hiểm. Sau một thời gian, do số tù nhân tăng lên, khám phải xây thêm nhiều phòng mới, tường cao bao quanh, gồm hai dãy nhà một tầng và hai dãy nhà trệt, phân chia thành nhiều khu vực để giam cầm nhiều hạng tù khác nhau.
Khám Lớn Sài Gòn trở thành khám đường lớn nhất Nam Kỳ lục tỉnh bấy giờ, giam giữ tra tấn tù nhân người Việt, người Hoa lẫn người Âu, có lúc lên tới 1.500 - 2.000 người. Nhiều người nổi tiếng đã từng bị giam giữ tại đây như Nguyễn An Ninh, Phan Xích Long, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Tống Văn Trân, Lý Tự Trọng... Trong khám có khu biệt giam tù chính trị, xà lim án chém, phòng để máy chém và khu hành quyết tù nhân.
                Theo các cứ liệu lịch sử, Khám Lớn Sài Gòn được xây giới hạn bởi bốn con đường Lagrandìere (Gia Long), Mac Mahon (Công Lý), Espagne (Lê Thánh Tôn) và Filippini (Nguyễn Trung Trực). Đối chiếu với thực địa hiện nay, khám nằm trọn trong khuôn viên Thư viện khoa học tổng hợp TP.HCM. Dưới thời thuộc Pháp, Khám Lớn Sài Gòn cùng với Tòa án Sài Gòn (xây năm 1881-1885) và Dinh Thống đốc Nam Kỳ (xây năm 1885-1890) nằm ở ba góc tạo thành "tam giác quỷ" là "biểu tượng" cho bộ máy thống trị của chế độ thực dân ở Nam kỳ lục tỉnh. Đến ngày 8/3/1953, Thủ tướng Quốc gia Việt Nam lúc bấy giờ là Nguyễn Văn Tâm (cầm quyền từ 23 tháng 6 năm 1952 đến 7 tháng 12 năm1953), liền cho phóng thích một số tù nhân ở Khám Lớn Sài Gòn, số còn lại khoảng 1.600 người cùng với chiếc máy chém, được chuyển về khám đường mới, tức Khám Chí Hòa.
                   Kể từ khi ấy, Khám Lớn Sài Gòn chỉ còn là nơi giam giữ phụ và sau đó đã bị chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cho phá hủy, để xây lên đó Trường Đại học Văn Khoa (thành lập năm 1957, trực thuộc Viện Đại học Sài Gòn). Đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa, khu đất này được sử dụng làm nơi triển lãm các sản phẩm công nghệ gì đó. Không biết do cơ duyên nào, khu vực tứ giác này về sau trở thành bản doanh đóng đô bởi những trường học, cơ quan, hội đoàn...: Đại Học Văn Khoa (trường cũ) – CPS - Hội Nhu Đạo - Hội Kiếm Thuật – Quán văn – Ca Đoàn Nguồn Sống - Hội Họa Sĩ Trẻ v.v.

       (Nguồn historicvietnam.com do Tim Doling viết, Wikipedia và các trang mạng khác)




Vị trí cổng chính khám lớn so với hiện nay



                                       Máy chém tại khám lớn nhập từ Pháp sang

                         2. Trường đại học văn khoa Sài Gòn và nữ hoàng chân đất Khánh Ly:

                            Tiền thân của Trường Đại học Văn khoa là Trường Đại học Văn khoa Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Phan Huy Quát cho thành lập vào năm 1949 thời Quốc gia Việt Nam. Hoạt động của Trường trong những năm kế tiếp bị gián đoạn vì tình hình chính trị. Mãi đến năm 1955, thời Đệ nhất Cộng hòa, Trường Đại học Văn khoa mới được ưu tiên phát triển. Lúc đầu Trường Đại học Văn khoa cấp bằng cử nhân văn chương Pháp và Anh nhưng và phải đến năm học 1957-1958 thì chương trình cử nhân giáo khoa văn chương Việt Nam mới được hoàn thiện. Cũng năm đó chương trình cử nhân giáo khoa triết học cũng được xây dựng hoàn tất. Theo Nghị định số 66-GD/NĐ của Bộ Quốc gia giáo dục ngày 6 tháng Chạp năm 1955, Đại học Văn khoa sáp nhập vào Viện Đại học Quốc gia Việt Nam. Như thế, từ nguồn gốc đại học Văn khoa ở Hà Nội năm 1950, đến ngày 6 tháng Chạp năm 1955 đã có một đại học Văn khoa mới tại Sài Gòn làm thành viên của Viện đại học Quốc gia Việt Nam. Sau đó Sắc lệnh số 45/GD của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ngày 1 tháng Ba năm 1957, Viện Đại học Quốc gia Việt Nam được đổi thành Viện Đại học Sài Gòn. Từ đây Đại học Văn khoa chính thức mang tên Đại học Văn khoa Sài Gòn, thuộc Viện Đại học Sài Gòn. Thời kỳ đầu cả trường đại học Văn khoa sài Gòn chỉ có 5 ban (Việt-Hán, Anh văn, Pháp văn, Triết học, Sử-Địa), sau đó phát triển thành 8 ban (1962), 10 ban (1970).



Đại học Văn khoa lúc còn ở đường Nguyễn Trung Trực


               " Trường Đại Học Văn Khoa (cũ) tọa lạc trên một vuông sân thơ mộng.  Mặt tiền ngó ra đường Nguyễn Trung Trực. Hông bên phải là đường Gia Long chạy dài tới Dinh Gia Long.  Phía trái làđường Lê Thánh Tôn.  Và sau lưng là Công Lý.  Khu tứ giác này về sau có nhiều hội đoàn đến đóng đô tạo nên một sinh hoạt khá sôi động, một thời kỳ tiêu biểu cho các hoạt động thanh niên sinh viên, văn hóa, xã hội v. v.
                Sau lưng trường Văn Khoa, ngay ở trung tâm điểm của khu tứ giác là một dãy nhà tiền chế được xây cất bằng vật liệu nhẹ (vách bằng rơm ép, mái tôn).  Dãy nhà này hiện diện từ hồi còn mồ ma Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nguyên được sử dụng cho hội chợ, phòng triển lãm, nhà trưng bày sản phẩm đặc biệt chi đó. Nguyên khu đất trống này hồi còn Pháp là khám lớn, nơi giam giữ các tội phạm chính trị. Thậm chí ở đây còn  nguyên bậc tam cấp lưu lại dấu tích nơi đặt máy chém xử tử các tội nhân. Bởi thế, có nhiều huyền thoại về thế giới âm hồn ma quỷ quanh quất khu đất này sẽ nhắc về sau.
               Phần lớn dãy nhà chính được dùng làm trụ sở của một cơ quan mang tên CPS.  Cái tên thoạt nghe như tên một cơ quan Mỹ.  Nhưng thật ra CPS là chữ viết tắt của Chương Trình Phát Triển Sinh Hoạt Thanh Niên Học Đường theo đề nghị của anh Lê Đình Điểu, một trong những nhân vật cốt cán điều hành chương trình.  Cổng chính vào trụ sở CPS nằm ở đường Gia Long. CPS trực thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục, là một cơ quan được sự trợ giúp của các tổ chức thiện nguyện quốc tế, chuyên trách về điều hành và xây dựng các sinh hoạt thanh niên sinh viên học sinh hướng về phụng sự xã hội.
CPS được coi sóc bởi một nhóm giáo chức trẻ, nhiều tâm huyết, là những người trí thức dấn thân mà tên tuổi trở nên rất quen thuộc về sau: Lê Đình Điểu, Trần Đại Lộc (đã khuất); Phạm Phú Minh ( tức Phạm Xuân Đài), Đỗ Qúy Toàn, Hà Tường Cát, Phan Văn Phùng … Thật ra, trước khi CPS chính thức sinh hoạt, cũng đã có những  chương trình chuyên trách về công tác xã hội như Chương Trình Hè 65, Chương Trình Công Tác Bạn Đường(?). Một trong những tay điều hành trụ cột của những chương trình này là ký giả lão thành Đỗ Ngọc Yến sau này của tờ Người Việt ở California.  Nếu tôi nhớ không lầm, Đỗ Ngọc Yến (đã khuất) cũng là một thành viên cốt cán của CPS dù không chường mặt trong ban điều hành. Tất cả những nhân vật trẻ nhắc trên đều là thành viên của Hội Đồng SángLập tạp chí Thế Kỷ 21 và một vài cơ quan truyền thông khác hiện nay ở Quận Cam, Cali.
Thử điểm qua một vài cứ điểm khác của khu đất trống kỳ lạ này:
-           Sau lưng trường Văn Khoa, cách một lối mòn, là căn phòng nhỏ của Nhóm Sư Địa chuyên in ấn cours cung cấp cho sinh viên (bằng kỹ thuật Ronéo, dĩ nhiên, vào thời đó). Chúng tôi thường gọi đùa Nhóm Sử Địa là ” những tay lái cua” của Văn Khoa.  Nhóm này quy tụ những đấng mày râu rất mồm mép, hễ gặp nhau là ồn ào náo nhiệt hẳn lên.  Điểm mặt quần hùng thấy có:  Phạm Quân Khanh,Nguyễn Minh Diễm, Vũ Hiệp, Lê Hoài Quỳnh, Nguyễn Tuyển, Bùi Hồng Sỹ, Trần Công Sung, Phạm Quốc Bảo, Đỗ Phan Hạnh v.v.
-          Sau lưng trụ sở CPS là dãy nhà hình chữ L,được chiếm hữu bởi Hội Nhu Đạo của GS Phạm Lợi và Hội Kiếm Thuật do ông Hoàng Việt, thân phụ của nhạc sĩ Nam Lộc làm trưởng tràng.
-          Qua bậc tam cấp, xuống hết con dốc thoai thoải là sân bóng chuyền.  Chiều chiều cư dân trong khu vực và anh em V
ăn Khoa sinh hoạt muộn chia phe đánh đấu ra gì!  Chỉ cá độ một chầu cà phê hoặc trà đá chanh đường cũng đủ mát lòng mát dạ.  Có những thân hình lực sĩ vạm vỡ thì cũng có những bộ xương cách trí xông pha chuyền bóng, đỡ bóng ngoạn mục không kém. Nhớ có lúc Trần Công Sung (tức ký giả Từ Thức) nhìn Đào Trường Phúc ( nhà thơ, Phong Trào phó Hưng Ca sau này) cởi trần đánh bóng cứ tấm tắc gật gù: ơ kìa! xem con hạc nó vờn banh.  Cũng chính ở sân bóng chuyền “lô can” này đã xuất phát được một tay kiệt hiệt về nghệ thuật chuyền bóng cá độ. Đó là hảo thủ Nguyễn Văn Hào (con của cụ Riêm, quản trường Văn Khoa mới). Hào chỉ cần sử dụng một cái ghế đẩu để chuyền bóng mà đối phương ba người được chấp phải chạy trối chết mới mong đở được những đường bóng hiểm độc của chàng ta.
-          Ngó xéo sân bóng chuyền là ngôi nhà nhỏ với vườn rau be bé xinh xinh của gia đình một nhân viên trường Văn Khoa khác. Gia đình này có cô con gái tên Phương về sau đánh bạn với Hoàng Xuân Giang em tôi.
-          Kế nhà Phương là trụ sở của Ca Đoàn Nguồn Sống.  Trưởng Đoàn là Nghiêm Phú Phát ít khi xuất hiện.  Người điều hành thường trực là Hà Quốc Bảo, người tròn trịa, vui tính.  Và bác sĩ Hoàng Cơ Trường, ít khi lộ diện.  Chính nữ ca sĩ Thanh Lan và nhiều tên tuổi khác cũng xuất phát từ ca đoàn này.
-          Sau rốt, day mặt ra đường Lê Thánh Tôn là trụ sở của Hội Họa Sĩ Trẻ: Chủ Tịch /Nguyễn Trung, Tổng Thư Ký / Hồ Thành Đức và nhiều khuôn mặt hội họa danh tiếng khác hằng lui tới sinh hoạt. Có thể kể: Nguyên Khai, Trịnh Cung, Đinh Cường, Nghiêu Đề, Mai Chửng, Hồ Hữu Thủ, Lâm Triết, Cù Nguyễn, Hiếu Đệ v. v. Một số đã trở nên thân thiết với bọn tôi về sau như Cung, Cường, Đề, Khai . . .Coi sóc Hội Họa Sĩ Trẻ  là hai cây cọ trẻ chịu chơi:  Mai và Bích." (Ký Tà áo văn khoa của Hoàng Xuân Sơn)
              Tại đây vào những năm đầu thập niên 60 hình thành môt hội quán gọi là quán Văn, sau đây là lời kể của Hoàng Xuân Sơn một trong những người sáng lập:
             " Trong ý nghĩ tình cờ nào đó của một ai đề xướng, Nhóm Sinh Viên Văn Hóa đứng ra thành lập Quán Văn (ông Đỗ Tăng Bí xác nhận qua điện thư ý kiến cho ra đời Quán Văn là của ông). Quán Văn, cái tên trở thành rất thân thuộc về sau là một trong những tụ điểm sinh hoạt văn nghệ tiên phong của thanh niên sinh viên học sinh rất có khí thế, có sức lôi cuốn mãnh liệt và tạo được nhiều tiếng vang trong những năm dài biến động. Có thể nói không ngoa: Chính Quán Văn đã đưa tên tuổi nhiều nghệ sĩ sáng tác, trình diễn đi sâu vào lòng thưởng ngoạn của giới trẻ và người mộ điệu. Từ Thanh Lan/ Từ Công Phụng đến Khánh Ly/Trịnh Công Sơn v.v. và nhiều ca nhạc sĩ, thi sĩ khác nữa. Sinh hoạt văn nghệ từ Quán Văn như một bàn đạp, dần đi sâu vào các khuôn viên đại học, đoàn thể và ngay cả tư nhân về sau. Quán Văn là tiền thân của Thằng Bờm, Hầm Gió, Hội Quán Cây Tre . . .
              Tưởng cũng nên nhắc lại, bọn tôi dù có tham gia các bang, nhóm riêng nhưng vẫn luôn luôn là thành viên của CPS1.Cơ quan này đã hỗ trợ đắc lực cho các sinh hoạt mang tính chất văn học nghệ thuật.
            Cuối năm 1966, đầu 67, anh em CPS tham gia công tác cứu trợ nạn nhân chiến tranh vùng giới tuyến Gio Linh/ Cam lộ/Đông Hà. Chiến dịch được mang tên Công Trường Thanh Niên Vùng Giới Tuyến gồm nhiều anh chị nhiệt tình hăng hái không nề súng đạn hiểm nguy mang vật liệu, phẩm vật đổ xô ra miền địa đầu dựng lại người dựng lại nhà cho đồng bào cật ruột. Một ngôi nhà mẫu bằng vật liệu thật nhẹ trong tinh thần cứu trợ khẩn cấp được tạm dựng trên khu đất trống trước thềm tam cấp, nơi Khám Lớn cũ hồi xưa đặt cỗ máy chém hành xử tội nhân, thoai thoải bước xuống sân cỏ rộng phía bên dưới. Lúc anh chị em sinh viên học sinh về lại Sàigòn sau gần một tháng trời công tác, ngôi nhà mẫu cứu trợ vẫn còn đó.
              Nhận thấy ngôi nhà tuy có vẻ sơ sài nhưng tọa lạc ở một địa điểm khá thơ mộng, anh em bàn thảo và nảy ra ý kiến dựng một quán cà phê văn nghệ làm nơi tụ họp thường xuyên cho giới trẻ, với vật liệu đơn sơ thô thiển, tự chế lấy bàn ghế, quày hàng v.v.Thế là phe ta hăng hái bắt tay vào việc. Mọi người đều đồng ý với tên đặt: Quán Văn. Vốn liếng sơ khởi là do đóng góp tài chánh của các thành viên Nhóm Sinh Viên Văn Hóa dưới hình thức đầu tư cổ phần. Nói nghe có vẻ to tát thế nhưng sự thật đa số anh em là sinh viên nghèo, còn đang theo đuổi việc học, còn ngửa tay nhận trợ cấp gia đình, nên tài khoản đóng góp cũng chỉ đủ chi dùng hàng họ cà phê nước ngọt lúc ban đầu.
              Nguyên tắc của Quán Văn là tự quản.Anh em luân phiên quản lý, coi sóc hàng quán mỗi tuần một lần. Đặc biệt chương trình văn nghệ chính thức được tổ chức mỗi tối thứ sáu hàng tuần, nhằm giới thiệu một tác giả hoặc một ban, nhóm đã, đang hoặc sẽ có những hoạt động mang tính văn nghệ. Tối thứ bảy, chủ nhật là văn nghệ tự do, bỏ túi, cây nhà lá vườn. Ngô Vương Toại và tôi Hoàng Xuân Sơn lo trang trí mỹ thuật, kẽ bảng hiệu, sắp xếp, bố trí bàn ghế, hàng họ.Trước mặt quán, hai chiếc dù nhà binh phế thải được căng ra làm nơi che mưa nắng.Dưới mái dù có khoảng mươi bộ bàn ghế chính thấp lè tè. Và phía dưới tam cấp, dốc đồi, trên thảm cỏ ... rải rác những ghế ngồi đủ kiểu đủ loại: thân cây cưa ngắn, ghế xe hơi cũ, thùng gỗ tạp, và thậm chí những két vỏ chai la de. Quán mang một dáng vẻ thô sơ, nghệ sĩ và rất là "sinh viên bụi ".
              Để tăng cường thêm nét duyên dáng cho Quán Văn, Ngô Vương Toại đã mời được một cô bạn gái ở cùng xóm trường đua Phú Thọ làm thâu ngân viên. Đó là Nhuệ Giang, vóc người nhỏ nhắn, xinh xắn với nụ cười duyên răng khễnh rất ư là thu hút, ưa nhìn. Nhuệ Giang tính tình vui vẻ, bặt thiệp và dễ mến, sẵn sàng làm vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi. Nhuệ Giang đã hóa thân làm Bông Hồng Quán Văn. Một cái tên tiền định. Mỗi tối đều có một chàng tình si đến cắm một đóa hồng rực thắm trên quày hàng Nhuệ Giang. Tất cả bọn tôi Ngô Vương Toại, Hoàng Xuân Giang Trịnh Công Sơn, Hoàng Ngọc Tuấn, Hoàng Xuân Sơn đều trở nên vô cùng thân thiết với Nhuệ Giang. Như anh em một nhà. Chỉ có chàng Trần Hiếu Lai công tử là lọt được vào mắt xanh của cô em gái. Được nhận làm gạc-đờ-co thường trực." Trích từ "Cũng Cần Có Nhau"  - phóng bút của Hoàng Xuân Sơn.


Quán Văn lúc mới thành lập. Từ trái: Ngô Vương Toại, Hoàng Xuân Giang, Trần Đại Lộc, Hoàng Xuân Sơn. Ảnh: Đỗ Việt Anh (Đỗ Tăng Bí) 1967


                            TCS và các bạn trẻ trên sân cỏ Quán Văn. (Collection - Đinh Cường)




                Chính tại nơi đây nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã đưa ca sĩ Khánh Ly từ Đà Lạt về để hát nhựng bài của mình. Khi hát Khánh Ly thường bỏi đôi guốc của mình đi chân trần cho nên có biệt hiệu là "nữ hoàng chân đất" và cũng nhờ nơi này mà tên tuổi của Khánh Ly được mọi người biết đến.
" khu đất này đã sản sinh ra một đội ngũ văn nghệ đông đảo, thành danh, rất hùng hậu tiêu biểu cho một thời kỳ sinh hoạt thanh niên sinh viên rầm rộ của thập niên sáu mươi (có thể nói rộng hơn: khu đất khám lớn cũ là tụ điểm xuất phát của nhiều tài năng, trong đó có những người đã thành danh, có người mới phất). Có thể kể về ca nhạc (sáng tác và trình diễn) có Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng, Nguyễn Đức Quang, Hoàng Xuân Giang, Ngô Mạnh Thu, Giang Châu...; Khánh Ly, Thanh Lan, Hồng Vân, Diễm Chi, Phương Oanh, Ban Tam Ca Đông Phương, Ban Trầm Ca, Ca Đoàn Nguồn Sống, Phong Trào Du Ca v.v (chưa kể những khuôn mặt văn nghệ nổi tiếng sinh hoạt ở những tụ điểm ngoại vi nhưng có liên quan đến Quán Văn như Lê Uyên Phương ở Thằng Bờm, Vũ Thành An/Thế Dung, Phạm Trọng Cầu ở Hội Quán Cây Tre). Về văn thơ, báo chí, viết lách có Đỗ Quý Toàn, Hoàng Ngọc Tuấn, Trần Tuấn Kiệt, Nguyễn Thụy Long, Nguyễn Nghiệp Nhượng, Phạm Quốc Bảo, Phạm Xuân Đài, Đào Trường Phúc, Trần Công Sung, Hồng Khắc Kim Mai, Nguyễn Đạt, Cao Huy Khanh, Đặng Phùng Quân, Cung Vĩnh Viễn, Bùi Bảo Trúc, Lê Thiệp, Đỗ Ngọc Yến, Y Dịch (Lê Đình Điểu), Phan Thanh Tâm, Ngô Vương Toại, Nguyễn Huỳnh, Cao Sơn (Nguyễn Văn Tấn) v.v. Về hội họa có Nguyễn Trung, Đinh Cường, Trịnh Cung, Hồ Thành Đức&Bé Ký, Nghiêu Đề, Mai Chững, Lê Thành Nhơn v.v. Phát về quan chức công quyền có Lê Đình Điểu (Cục Trưởng, bộ Dân Vận và Chiêu Hồi), Hoàng Ngọc Tuệ (Giám Đốc, Bộ Thanh Niên), Bùi Bảo Trúc (Phát Ngôn Viên Chính Phủ, Tham Vụ Ngoại Giao)...Và một số lớn anh em khác làm việc cho cơ quan Dân Vận Chiêu Hồi cũng mang các chức quyền ngang cấp Chánh Sự Vụ, Trưởng Ty v.v. như Ngô Vương Toại, Đỗ Việt Anh, Trần Đại Lộc/Hà Tường Các/Phạm Phú Minh (?), Nguyễn Viết Tân, Vũ Thành An, Bùi Hồng Sỹ, Hồng Khắc Lê Minh..." Trích từ "Cũng Cần Có Nhau"  - phóng bút của Hoàng Xuân Sơn.
              Năm 1967 trường đại học văn khoa được dời về số 10 Cường Để (nay là đường Đinh Tiên Hoàng, Q.1) – nơi từng là trại lính của trung đoàn pháo binh thuộc địa số 11 của quân đội Pháp và sau đó là doanh trại của lữ đoàn liên quân phòng vệ Tổng thống thời Ngô Đình Diệm.

           3. Thư viện quốc gia Sài Gòn:
             Trước khi đề cập tới thư viện quốc gia, dưới đây là vài dòng về lịch sử hình thành thư viện tại Sài Gòn từ thời Pháp thuộc và sau đó:
                Giai đoạn trước năm 1968:
               Năm 1868, Thư viện các Đô đốc, Thống đốc Nam Kỳ (hay Thư viện Soái phủ Nam Kỳ) được thành lập theo sắc lệnh của Phó Đô đốc Ohier.
              Năm 1882, Thư viện đổi tên thành Thư viện Tư liệu Chính phủ Nam Kỳ thuộc Pháp (Bibliothèque de Documentation du Gouvement de la Cochinchine Francaise hay Bibliothèque Saigon) và trở thành thư viện công cộng đầu tiên của Việt Nam nằm tại số 27 đường Lagrandiere về sau là  số 159 - 161 đường Gia Long. 



              Năm 1902, Thư viện được tách ra thành một sở tự trị gọi là Thư viện Nam Kỳ Soái phủ (Bibliothèque de la Cochinchine) trực thuộc Tòa Thượng thư đặt ở tầng một của Tòa Thư ký Chính phủ (số 27 đường Lagrandìere nay là đường Lý Tự Trọng). Năm 1909, ông Riffa là giám thư đầu tiên được bổ nhiệm chính thức điều khiển thư viện. Thư viện đã tích lũy được một bộ sưu tập khá lớn của hơn 10.000 tập về pháp luật, khoa học, lịch sử và văn học, cùng với các tờ báo và tạp chí.
            Chẳng bao lâu sau năm 1920, Thư viện Nam Kỳ chuyển đến cơ sở lớn hơn bên kia đường tại số 34 rue de Lagrandière.



                                         số 34 rue de Lagrandière ngày nay

          Năm 1946, Thư viện Nam Kỳ được Pháp trao lại cho Chính phủ lâm thời Việt Nam, đến năm 1949 được đổi tên là Thư viện Nam phần.
           Ở Sài Gòn có 3 thư viện công quyền gồm: Thư viện Nam phần; Tổng Thư viện với trụ sở tạm thời trong trường Pétrus Ký, đường Trần Bình Trọng, trực thuộc Viện Đại học Sài Gòn; Thư viện cho mượn và phòng đọc thiếu nhi tại 194D Pasteur, trước đây là bộ phận của Thư viện Nam phần
          Ngày 01-07-1957, theo công lệnh số 544/GD-CL của Bộ giáo dục, Tổng Thư viện trực thuộc Viện Đại học Sài Gòn chuyển sang thuộc quyền quản lý của Bộ Quốc Gia Giáo Dục.
         Ngày 04-08-1964, Nghị định số 1354/GD/PC/ND, Tổng Thư viện Sài Gòn trực thuộc Nha Văn Khố và Thư viện Quốc Gia; Thư viện Nam Phần chuyển sang trực thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục.
          Bộ Quốc Gia Giáo Dục tổ chức cuộc thi vẽ đồ án trụ sở Thư viện Quốc Gia đặt tại số 69 Gia Long (nay là 69 đường Lý Tự Trọng). Chính quyền Sài Gòn mở 4 kỳ xổ số đặc biệt để lấy kinh phí xây dựng Thư viện Quốc Gia. Trong năm 1955, công trình xây dựng Thư viện Quốc Gia được khởi công với sự chủ tọa của Ngô Đình Diệm, nhưng dự án bị bỏ dở cho đến ngày 28-12-1968.

         Giai đoạn từ năm 1968 đến trước 30/04/1975:
         Khám lớn Sài Gòn được khởi công xây dựng thành Thư viện Quốc Gia dựa vào đồ án thiết kế của hai kiến trúc sư Bùi Quang Hạnh và Nguyễn Hữu Thiện với sự cộng tác của cố vấn kỹ thuật – Kiến trúc sư Lê văn Lắm. Thủ tướng Trần Văn Hương đã đặt viên đá đầu tiên để khởi công và công trình hoàn thành vào cuối năm 1971.  Ngày 23-12-1971, Thư viện Quốc Gia được khánh thành và đi vào hoạt động tháng 2-1972.
       Kinh phí xây dựng lên đến 177 triệu đồng, nhà thầu xây cất phải dùng tới 100.000 công thợ, 500 tấn sắt và 27.000 bao xi măng ròng rã 3 năm công việc xây cất mới hoàn thành với diện tích 7070 m2 bao gồm hai khối:
      - Khối thứ nhất là một dãy nhà dài 71 m, ngang 23 m gồm một tầng hầm, một tầng trệt và hai lầu, một sân thượng ở lầu hai.
      - Khối thứ hai nằm ở trung tâm, hình vuông và vươn lên cao như một ngọn tháp với 14 tầng, cao 43m, chứa tài liệu.
      Đây là thư viện lớn nhất Việt Nam vào thời bấy giờ, có kiến trúc hiện đại kết hợp với tính dân tộc. Lúc này thư viện có 53 nhân viên phục vụ với khoảng 100.000 bản tài liệu.








                Trên một mảnh đất bao bọc bởi bốn con đường thông qua bài này chúng ta thấy biết bao nhiêu đổi thay từ lúc thành phố Sài Gòn được hình thành ít lâu đến sau này. Bao nhiêu câu chuyện, bao nhiêu mảng đời, bao nhiêu số phận theo năm tháng; rồi đây có ai còn nhớ cho những con người đó không?

  Tết Sài Gòn trăm năm trước ra sao?   Biết những gì xảy ra trong quá khứ xa xưa dường như là mơ ước muôn đời của con người. Bởi trong c...