SÀI GÒN CẢNH CŨ ĐƯỜNG XƯA
CHỢ ĐŨI
Mỹ Phước Nguyễn Thanh – France
Chợ Đũi không là một địa danh xa lạ đối
với người Sài Gòn. Hầu như ai cũng biết vị trí vùng này trong thành phố, nhưng
ít khi đồng ý với nhau về ranh giới là những nơi nào.
Theo Đại Nam Quốc Âm tự vị của học giả
Huỳnh Tịnh Của (xuất bản năm 1895-1896), '' Chợ Đũi là tên chợ, nguyên là chổ
hay bám đũi, dệt đũi”. Tự điển này còn định nghĩa: '' Đũi là hàng tơ chỉ dệt bằng
tơ kén dổ (tức là vỏ kén con bướm đã lột xác) thường dùng may quần, bền hơn vải''.
Chợ Đũi nằm trong nhóm địa danh đặt
tên theo sản vật giống như Chợ Đệm, Chợ Vải, Chợ Thiếc,.… iên quan đến nơi bán
vải đũi, bộ Địa bạ của t nh Gia Định dưới triều nhà Nguyễn (bản dịch của nhà
nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, 1994) đã kể tên hai ngôi làng trong vùng Sài Gòn
vào năm 1836 thuộc phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, đó là ''Thôn An Cư ở xứ Điểm
Nệm Đũi'' và ''Thôn Tân Thuận ở xứ Chợ Nệm Đũi''. Hai làng này nằm kề nhau, có
lẽ đều là nơi sản xuất nệm đũi dồn bông.
Khoảng năm 1885, học giả Trương Vĩnh
Ký diễn thuyết tại trường Thông ngôn (Collège des Interprètes) về lịch sử Sài
Gòn và vùng phụ cận. Bài diễn văn được in lại dưới tựa đề ''Souvenirs
historiques sur Saigon et ses environs'', có đoạn nói về Chợ Đũi dưới triều vua
Minh Mạng. Tác giả đưa ta tới một nơi ở góc tay mặt của thành Quy (tức Thành
Phiên An, xây năm 1790), đối chiếu với đường phố ngày nay thì ở khoảng ngã tư
Pasteur - ý Tự Trọng (Gia Long). Từ địa điểm này đến đường Thuận Kiều (Cách Mạng
Tháng Tám / ê Văn Duyệt) đường dài khoảng 800 mét, đi qua Chợ Da Còm, Chợ Đũi,
và Xóm Đệm Buồm. Vì thế ta có thể cho rằng vào thời ấy Chợ Đũi ch là khu vực nhỏ,
bề rộng vài ba trăm mét. Từ một nơi họp chợ thông thường như bao nhiêu chợ
khác, Chợ Đũi dần dần trở thành địa danh chỉ định vùng chung quanh rộng lớn hơn
nhiều.
Ngoài ra cụ Trương còn cho ta biết
thêm: ''Ngày nay (khoảng năm 1885) địa danh Chợ Đũi dùng để gọi phần phía trên
của đường Boresse vượt qua đến phía bên kia của đường xe lửa''. Thời ấy đường
Boresse đi từ rạch Bến Nghé lên tới đường Lê Thánh Tôn ngày nay, cho nên ''phần
phía trên của của đường Boresse'' là khu vực kể từ khoảng giao lộ Trần Hưng Đạo
– Yersin - Ký Con đến đường Lý Tự Trọng (Gia Long). Đồng thời, '' Đường xe lửa''
được nêu ra chính là đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho, khánh thành năm 1883, đi chung
lộ trình với đường tramway Sài Gòn - Chợ ớn, khánh thành năm 1881, cả hai đều
chạy dọc theo đường Chiến lược (route stratégique) về phía Chợ Lớn. Do đó ta có
thể đoán được ''bên kia của đường xe lửa'' là vùng chạy cập theo đường Nguyễn
Thị Minh Khai (Hồng Thập Tự), là đường Chiến lược lúc xưa. Tóm lại, vào năm
1885 vùng Chợ Đũi trải rộng từ khoảng đầu đại lộ Trần Hưng Đạo đến khoảng đường
Nguyễn Thị Minh Khai ngày nay (đường Hồng Thập Tự cũ)
Năm 1866, ông de Coincy mô tả vùng Chợ Đũi qua mấy dòng ngắn
gọn: ''Vùng phía bên kia đường Thuận Kiều (đường Cách Mạng tháng 8 / Lê Văn Duyệt),
giữa rạch Bến Nghé và đường Sài Gòn đi Chợ Lớn (đường Võ Tánh / Nguyễn Trãi) là
một dãi đất dài trù phú và phì nhiêu không kém gì đất đai vùng Gò Vấp.Ngay bên
cạnh thành phố, vùng nằm giữa đường Chiến lược (đường Nguyễn Thị Minh Khai / Hồng
Thập Tự) và đường Trên Sài Gòn – Chợ Lớn (đường Võ Tánh / Nguyễn Trãi), xưa l
khu vườn tược của các quan lại người Việt, những khu vườn nằm nối tiếp nhau, chắc
hẳn nơi ấy đầy những ngôi nhà khang trang dùng làm nơi hưởng thú điền viên mà
nay cảnh đổ nát hoang tàn còn thấy lẫn khuất dưới lùm cây bụi cỏ. Chỉ sót lại
những cụm rừng, những cây trồng cho huê lợi hay trồng làm cảnh, một thời đã điểm
trang chốn ẩn cư êm đềm nay''. Phải chăng tác giả ấy nói đến cảnh tiêu điều vào
những năm sau ngày Pháp đánh chiếm Sài Gòn tại vùng đất nối tiếp với ''vườn Ông
Thượng'', tên dân gian gọi khu vườn cây của Tả Quân Lê Văn Duyệt (nay ở vị trí
vườn Tao Đàn).

Năm 1881, vùng Chợ Đũi bao trùm phần
lớn hai làng: Phú Thạnh và Thái Bình. àng Phú Thạnh (vùng Vườn Chuối, Bàn Cờ
ngày nay) ở nơi đất cao ráo. Làng Thái Bình có một phần đất đai nằm trong đầm lầy
Boresse đang được khai khẩn, nhiều nơi còn ẩm thấp, kém vệ sinh như vùng chung
quanh ngọn rạch Cầu Kho. Nơi đây nhiều người dân sống bằng nghề trồng rau đem
bán ở chợ, tưới hoa màu bằng nước phân nên cả vùng bốc mùi hôi hám. Trong vùng
này có nhà thờ Chợ Đũi cũ xây dựng khoảng 1885 (gần ngã ba Đề Thám - Phạm Ngũ
ão), đã bị tháo d và được thay thế bằng nhà thờ Huyện Sĩ hiện nay.
Năm 1883, đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ
Tho được thành lập, đường sắt đi xuyên qua vùng Chợ Đũi làm thay đổi phần nào bộ
mặt phố phường, nhưng thay đổi quan trọng hơn nhiều từ khi nhà ga mới được xây
lên (1912-1917) bên cạnh bùng binh và chợ mới Bến Thành. Trước kia nhiều con đường
chạy từ bờ rạch Bến Nghé lên tới vườn ng Thượng (vườn Bồ Rô), nay bị các kho
hàng và bãi đường rầy cắt ngang làm cho khu Chợ Đũi không còn nối liền với khu
Cầu Muối, Cầu Ông Lãnh.
Địa danh Chợ Đũi không thuộc vào đơn
vị hành chánh nào cả, trên các bản đồ thành phố Sài Gòn nếu có ghi ''Chợ Đũi''
ta cũng không thấy đường ranh giới nào được xác định. iệt kê một số địa điểm
mang tên Chợ Đũi giúp ta biết được phần nào khoảng rộng của vùng này:
Trường tiểu học Chợ Đũi (trên đường
Trần Hưng Đạo, nay là trường tiểu học Nguyễn Thái Học).
Trường tiểu học Nguyễn Thái Học cạnh rạp Đãi Nam
Trường nữ tiểu học Chợ Đũi (trên đường
Trần Hưng Đạo, đối diện với ngôi trường nói trên, nay là trường trung học phổ
thông Earst Thalmann)
Trường nữ tiểu học Chợ Đũi thởi Pháp thuộc
Nhà thờ Chợ Đũi (nhà thờ Huyện Sĩ)
Nghĩa địa Chợ Đũi (trên đường Nguyễn
Văn Tráng, các ngôi mộ đã được cải táng trong thập niên 1940)
Trạm xe tramway Chợ Đũi (trạm này ở kế
bên ngã sáu Phù Đổng và đã biến mất sau khi tháo gỡ đường sắt của tramway Sài
Gòn - Chợ Lớn)
Rạp hát Chợ Đũi (sau trở thành rạp
xi-nê Olympic, nay là trung tâm văn hóa thành phố).
Chùa Bà Chợ Đũi (chùa Thiên Hậu, số
284 Nguyễn Thị Minh Khai / Hồng Thập Tự)
Bót cảnh sát Chợ Đũi (tọa lạc bên cạnh
ngã tư Chasseloup-Laubat - Thuận Kiều, nay là ngã tư Cách Mạng tháng 8 - Nguyễn
Thị Minh Khai ( ê Văn Duyệt - Hồng Thập Tự), đã bị phá dỡ vào đầu thế kỷ 20)
Chợ Chợ Đũi (hay chợ Phú Thạnh, ở góc
đường Cách Mạng tháng 8 - Võ Văn Tần ( ê Văn Duyệt - Trần Quý Cáp), người Pháp
còn gọi là chợ Testard, xây khoảng đầu thế kỷ 20, không rõ bị phá bỏ vào năm
nào)
Nhà thương thí Chợ Đũi (xây dựng khoảng
1895, còn có tên khác là ''nhà thương Bạc Hà'', sau đổi tên là ''Trung tâm Quốc
gia Bài trừ Hoa liễu'', cổng chính trên đường Hồ Xuân Hương. Nay là bệnh viện
Da liễu, cổng chính trên đường Nguyễn Thông).
Đi xa hơn các nơi vừa kể, lúc các địa
danh Bàn Cờ, Vườn Chuối chưa được thông dụng, người dân vẫn xem vùng Chợ Đũi trải
rộng đến đường Général Lizé (Phan Thanh Giản / Điện Biên Phủ)
Trong một quyển niên giám Sài Gòn ấn hành
năm 1933, khu Chợ Đũi được xem như nằm giới hạn trong tứ giác Verdun (Cách Mạng
tháng 8 / ê Văn Duyệt) - Nancy (Nguyễn Văn Cừ / Cộng Hòa) - Chasseloup-Laubat
(Nguyễn Thị Minh Khai / Hồng Thập Tự) - Gallieni (Trần Hưng Đạo). Không bắt buộc
theo đúng sơ đồ đó, ta tìm lại nét xưa của Chợ Đũi theo lộ trình đi xuyên qua
vài đường phố, bắt gặp một số hình ảnh, sự kiện đã diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến
thập niên 1940. Khởi hành từ đầu đường Phạm Ngũ ão bên cạnh đại lộ Gallieni (Trần
Hưng Đạo) ta đi về hướng ngã năm Cống Quỳnh. Tiếp theo, từ ngã sáu Phù Đổng ta
đến những đường lân cận đi về phía nhà thờ Huyện Sĩ, thành lính Ô Ma
Đường Colonel Grimaud, nay là đường Phạm Ngũ ão, là con đường
khá đặc biệt vì một phần nằm cạnh bùng binh chợ Bến Thành, phía trước dãy phố
nhìn sang chợ, là khu buôn bán tấp nập, phần còn lại chạy dài bên cạnh bức tường
kho hàng sở hỏa xa và nhà ga Sài Gòn, khu này nhà cửa ít khang trang và đường
phố vắng vẻ trong suốt mấy thập niên. Hai đoạn đường vừa nói chia cách nhau bởi
đại lộ Gallieni. Đoạn đường nằm cạnh bùng binh đã được nói qua trong bài ''Dạo
phố vòng quanh chợ Bến Thành'', nên ta chỉ để ý tới đoạn đường nằm bên cạnh nhà
ga, từ đại lộ Gallieni đến chợ Thái Bình.
Lúc nhà ga mới được xây dựng (khoảng
1918) đường Colonel Grimaud cũng như những đường trong khu vực chung quanh hãy
còn gồ ghề lởm chởm. Vì đường nằm ở phía nam khu nhà ga nên được đặt tên lần đầu
là ''Rue atérale Sud'' (đường bên cạnh phía nam).
Từ mũi đất ở đầu đại lộ Gallieni đi độ
vài phút đến góc ngã ba đường Boresse (nay là đường Yersin), ta thấy rạp hát
Thành Xương. Chủ nhân của tòa nhà này là ông huyện Thomas Nguyễn Văn Cần, chủ tọa
lễ khánh thành vào năm 1927. Thành Xương tuy là rạp hát tương đối nhỏ nhưng chiếm
địa thế thuận lợi gần trung tâm thành phố nên nhiều gánh hát cải lương lừng
danh đến đây lưu diễn, các thế hệ nghệ sĩ đã mang lời ca tiếng hát cống hiến hằng
vạn khán giả mộ điệu. Ngoài ra còn là nơi nhiều hội đoàn tổ chức các cuộc diễn
thuyết, các buổi dạ hội, cũng là nơi những nhà chính trị lên sân khấu vận động
sôi nổi trong cuộc tranh cử hội đồng thành phố, v.v. Theo đà tiến hóa của đô thị,
rạp xi-nê Diên Hồng thay thế rạp hát Thành Xương, nhưng đến nay cả hai đã lặng
lẽ chìm vào quên lãng, nhường chổ cho tòa nhà 3 tầng mở nhà hàng và quán rượu.
Tiến bước xa thêm ta đến cổng sau của
trường nữ tiểu học Chợ Đũi (École des eunes filles de Chodui), cổng chính của
trường ở phía đại lộ Gallieni (Trần Hưng Đạo). Trường được xây vào khoảng năm
1920, gồm 3 lớp học, nhà chơi, nhà vệ sinh. Số học sinh tăng dần nên vài năm
sau trường được mở thêm đến 8 lớp. Năm 1935 trường cần được tái thiết khẩn cấp
vì nền móng của một trong những tòa nhà bị sụp lún làm cho học sinh phải vội vã
rời lớp học. Nhiều gian nhà lá được xây tạm trong sân trường cho việc học không
bị gián đoạn. Từ ngày ấy các tòa nhà cũ bị phá bỏ, năm 1937, một tòa nhà mới to
rộng hơn được xây lên, còn đứng vững đến nay. Ngôi trường mới là tòa nhà ba tầng,
gồm 15 lớp học (12 lớp sơ cấp, 2 lớp đồng ấu, 1 lớp dành cho khoa nữ công), có
thể chứa hơn 600 học sinh. Từ khi thành lập, do thời cuộc thay đổi trường lần
lượt mang tên Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị, Ten-lơ-man (Earst Thalmann).
Đối diện với trường nữ tiểu học, bên
góc đại lộ Gallieni và Kitchener (Trần Hưng Đạo - Nguyễn Thái Học) là trường
nam tiểu học Chợ Đũi, cùng với các trường tiểu học công lập ở Cầu Kho, Tân Định,
Đa Kao, Khánh Hội, là những cơ sở giáo dục đáng kể ra đời vào đầu thập niên 1910.
Trường này được đặt tên là Petrus Ký vào năm 1927, sau đổi tên là Trương Minh
Ký, cuối cùng mang tên Nguyễn Thái Học và giữ mãi cho đến nay.
Ta tiếp tục đi qua ngã ba đại lộ ord
Kitchener (Nguyễn Thái Học) rồi đến ngã ba đường Dixmude (Đề Thám). Nơi đây
đáng được ta lưu ý vì ở gần bên nền cũ của nhà thờ xứ đạo Chợ Đũi do linh mục
Mossard chủ trì xây dựng khoảng 1885, sau khi tách rời từ xứ đạo Cầu Kho vào
năm 1882. Khoảng năm 1900, từ cửa chính nhà thờ nhìn ra thấy ngã tư, nơi giao
nhau của hai đường: ''route du rach de Cau Kho'' (Đường này đã mất hút trong
khu nhà kho và bãi đậu xe lửa) và ''rue du cimetière de Chodui'' (nay là còn
sót lại đường Nguyễn Văn Tráng và đường Đề Thám). Từ ngã tư này, đi lên phía bắc
tới đường Trên Sài Gòn - Chợ ớn (V Tánh / Nguyễn Trãi) sau khi qua chiếc cầu bắt
ngang rạch Cầu Kho và đi ngang nghĩa địa Chợ Đũi. Đi sang phía đông tới đường ò
Heo (boulevard de l'Abattoir, nay là đường Nguyễn Thái Học). Đi xuống phía nam
về Cầu ng ãnh. Đi sang phía tây tới đường Blancsubé (nay là đường Cống Quỳnh).
Nhà cầm quyền trưng dụng đất xây thiết lộ, khu nhà ga được xây dựng, phủ lấp
lên trên ngã tư vừa nói, ngăn một khoảng cách lớn giữa khu xóm nhà thờ và nghĩa
địa Chợ Đũi. Đất nhà thờ cũng chịu hậu quả, nhà thờ bị dở bỏ, nhưng ít lâu sau
xứ đạo Chợ Đũi có ngôi nhà thờ mới rộng lớn và khang trang hơn do ông huyện Sĩ
xây dựng. Ngôi nhà thờ cũ đã biến mất, con đường bên cạnh được đổi tên là
''Ancienne Église de Chodui'', là đường Đề Thám hiện nay.

Vào năm 1927, ở nơi đâu đó ven đường
Colonel Grimaud, đối diện các kho vật liệu của hãng tramway Sài Gòn - Chợ Lớn,
rạp hát Đức Hoàng Hội được hoàn thành, góp mặt với nghệ thuật sân khấu. Trước
đó, khoảng năm 1925 ở Sài Gòn đã xuất hiện ban kịch Đức Hoàng Hội, mang tên của
ba người sáng lập là các ông Jacques ê Văn Đức, Anthony Trần Tử Hoàng và Paul
Nguyễn Bá Hội. Đây là ban kịch mang tính tài tử, chủ trương phát huy ngành sân
khấu dân tộc, nâng cao tinh thần đoàn kết của các nhân viên trong ngành thương
mại, đặc biệt là các đồng nghiệp hâm mộ kịch nghệ. Các diễn viên toàn là nam giới,
những người tùng sự ở các công sở, nên không được hưởng lương bổng như các nghệ
sĩ chuyên nghiệp. Ban kịch bắt đầu được chú ý qua các vở kịch trình diễn tại
trường Taberd, trong số đó có tuồng ''Thương Khó'', '' Một cha khác mẹ'', v.v.
Ông Đức đã đi du lịch nhiều nước châu
Âu, nhân cơ hội đó ông có dịp nghiên cứu các bộ môn kịch nghệ ở phương Tây và
đã sáng tác một số kịch phẩm. ng cùng hợp tác với ông Hoàng và ông Hội để xây dựng
một rạp hát. Kỳ vọng của các ông là thành lập một nhà hát kiêm ''hội quán'' của
người Việt Nam, nơi đây có thể tổ chức hội nghị, diễn thuyết, tiếp tân, đãi tiệc,
v.v. Đang lúc các ông bàn luận việc tìm kiếm đất đai cho rạp hát, một nhà đại
CT-SỐ 92 190 phú ở Sài Gòn là ông Benoît ê Văn Châu hiến tặng cho mảnh đất bên
đường Colonel Grimaud.
Nhà hát được khánh thành vào năm
1927. Cuộc tiếp đãi trọng hậu dành cho khách mời, những bực danh vọng, cự phú,
đại diện báo chí, quan chức, v.v. Đến giờ khai trương khách khám phá ra một rạp
hát rộng rãi không kém gì rạp hát Modern đông khách ở trên đường Espagne, nhưng
trội hơn rạp ấy về nhiều điểm khác như hợp vệ sinh, thông thoáng, môi trường
yên tĩnh,v.v. Các người tham dự được mời bữa tiệc nhẹ do nhà hàng Nam Kin đảm
trách. úc họ đang uống rượu, ăn bánh, bên ngoài pháo nổ vang trời. Ăn uống xong
khách ngồi ch nh tề xem văn nghệ, các màn nhạc và kịch tây lẫn ta được biểu diễn.
Tấm phông, y phục, dụng cụ đều được đặt mua tại Pháp. Có máy điện phát ra những
âm thanh đặc biệt như tiếng sấm sét, tiếng chuông nhà thờ..
Chỉ ít năm sau, ban kịch Đức Hoàng Hội
ngưng hoạt động vì không lôi cuốn được khán giả, do còn ở giai đoạn khá mới mẻ,
thoại kịch ch thu hút được một số trí thức Tây học, trong khi giới bình dân vẫn
ưa chuộng hát bội, cải lương. Mặc dù nhà hát Đức Hoàng Hội hoạt động chưa được
bao lâu nhưng ít ra cũng làm được việc giúp vui cho đồng bào. Thường m i đêm có
chiếu phim hoặc th nh thoảng có biểu diễn ảo thuật, ngoài ra là nơi tụ họp của
các hội tương tế, nơi ra mắt các ban kịch trẻ. Có lần các thương gia người Anh
nhân dịp tuần dương hạm Carlisle cập bến tại Sài Gòn, đã tổ chức hai đêm tiếp
tân, để khoản đãi các thủy thủ bằng tiệc giải lao và các buổi trình diễn chiếu
bóng.
Chợ Thái Bình (1949)
Tiếp bước về hướng chợ Thái Bình, ta
đi ngang qua nhiều đầu hẻm. Một hẻm lớn, nay là đường Đ Quang Đẩu, đi vào trong
xóm Sáu èo. Vào thời ấy, xóm này là khu nhà lá đông dân, giáp qua tới các đường
Dixmude - Arras - Gallieni (Đề Thám - Cống Quỳnh - Trần Hưng Đạo), bên trong chằng
chịt những hẻm nhỏ chia nhánh đi tứ phía. Vào đêm khuya thứ bảy ngày 2-3-1929 một
trận hỏa hoạn bùng phát trong khu xóm lao động ấy, lửa lan tràn nhanh chóng qua
tới khu các dãy nhà lá dọc theo đại lộ Gallieni. ửa cháy suốt đêm, đội lính cứu
hỏa ra tay chống chọi với ngọn lửa nhưng vô hiệu vì thiếu nước chữa cháy. Đến
sáng họ còn cố dập tắt vài nơi vẫn ngún lửa. Hơn hai trăm căn nhà ra tro. Người
ta ch kịp cứu người, tội nghiệp cho những con heo bị kẹt lại trong chuồng, kêu
la đau đớn trước khi bị chết bỏng.
Đám cháy đã gián tiếp gây tai nạn cho
khán giả đang xem hát tại rạp Cầu Muối, ở cách đó khá xa. Thường vào mỗi đêm thứ
bảy, rạp hát Cầu Muối đầy ắp khán giả. Bên ngoài có người bỗng la to ''nhà cháy''
khi nhìn thấy ánh lửa đỏ bừng lên ở phía đường Gallieni. Bên trong khán giả
nghe tri hô nên hoảng hốt, xô đẩy nhau tìm đường thoát thân, gây thương tích
cho nhiều người. Vài hôm sau vụ hỏa tai, trong số những món tiền gửi đến giúp đ
các nạn nhân, có 500 đồng do ông trùm cờ bạc Sáu Ngọ nhờ người trao lại. Số tiền
trợ giúp ấy chẳng hay có đến tay những người mắc nạn vì một tờ báo lên tiếng
dèm pha, cho rằng đồng tiền ấy do chủ nhơn thu được từ những sòng bạc lén lút,
là tiền bẩn thỉu.
Ta tiến dần đến chợ Thái Bình, gần đấy
có rạp hát Phi Long của ông Trần hữu Tường, khai trương vào cuối năm 1935, ra mắt
khán giả bằng những tuồng hát bội như ''Thần nữ dưng Ngũ Linh kỳ'', ''Tống Nhạc
Phi'', ''Ngưu Cao giả gái'', v.v.
Chợ Thái Bình tọa lạc trên khu đất
hình tam giác bên cạnh ngã năm, nơi giao nhau các đường Arras (Cống Quỳnh) và Frère
Louis (Nguyễn Trãi / Võ Tánh). Xưa tại đây là vùng đất đai ẩm thấp ven rạch Cầu
Kho. Chợ Thái Bình sanh sau đẻ muộn so với các chợ khác như Cầu Ông Lãnh, Đa
Kao, Chợ Đũi, Tân Định. Trên một bản đồ Sài Gòn in năm 1920 ta thấy một nhánh rạch
Cầu Kho chảy xuyên qua khu đất dành để xây chợ. Có lẽ chợ Thái Bình ra đời vào
lúc đường Colonel Grimaud được khai thông đến đây trong đầu thập niên 1920.
Vào năm 1939, trên khu đất ở phía cuối
đường Colonel Grimaud, đối diện chợ Thái Bình, tiếp giáp với nhà kho và bãi đậu
xe lửa, ông Kiều Công Gia mở một tư thục lấy tên là Donnai (Đồng Nai). Ngôi trường
là dãy gồm 15 căn nhà lầu một tầng, có thể thu nhận một ngàn học sinh ngoại trú
và nội trú. Trường giảng dạy từ các lớp tiểu học đến cao đẳng tiểu học, hướng dẫn
học sinh thi lấy bằng sơ học đến bằng thành chung. Ban giảng huấn có nhiều giáo
sư tốt nghiệp cử nhân (Trần Văn Thạch, Hồ Hữu Tường, Dương Tấn Trương, Trương
Vĩnh Khánh, Đoàn Quang Tấn...), hoặc cao đ ng sư phạm (Trần Văn Các, Ngô Châu
Danh, Nguyễn Trọng Hy...), hoặc tú tài (Trần Thiêm Thới, Huỳnh Văn Mỹ, Hồng
Minh Chép...). Ông Kiều Công Gia làm hiệu trưởng kiêm chủ nhân ngôi trường, từng
du học tại Pháp, đã giảng dạy tại trường Taberd và trường Chấn Thanh. Thân phụ
của ông là cụ Kiều Công Thiện cũng là nhà giáo kỳ cựu, chuyên về môn Pháp văn.
Trường Donnai được đánh giá là trường dạy giỏi, số thí sinh thi đ đạt tỷ lệ
cao. Trong những ngày thi cử, hai ông Kiều Công Gia và Nguyễn Trọng Hy (phó hiệu
trưởng) không ngại đưa đón các thí sinh của trường mình lúc sắp vào phòng thi
cũng như lúc nộp bài xong ra về.
(Còn tiếp)
Mỹ Phước Nguyễn Thanh - France