Xi-Nê
Sài Gòn Trước 1975. Những Phim Đã Chiếu.
3:10 to Yuma (1957) phim cao
bồi, Glenn Ford, Van Heflin. 3 giờ 10 phút có chuyến xe lửa khởi hành
đi Yuma, Glenn Ford trong vai một tướng cướp bị viên cảnh sát trưởng
bắt và sẽ thưởng 200 dollars cho ai đứng ra canh giữ Ford trong khi chờ
đợi chuyến xe lửa để giải đi Yuma. Van Heflin trong vai một nông dân có
quá khứ nặng nề đang cần tiền vì thất mùa chịu đảm nhận canh giữ
Ford trong khi đồng bọn của Ford đã hay tin và đang tìm cách giải giây.
Trong khi chờ đợi chuyến xe lửa 3 giờ 10 phút, cuộc đối thoại giữa
hai nhân vật cho thấy mỗi bên đều có bản chất sáng và tối...

A Yank
in Vietnam (1964) phim chiến tranh, Marshall Thompson, Kiều Chinh, Hoàng
Vĩnh Lộc, Mỹ Tín, Đoàn Châu Mậu, Năm Châu, Kiều Hạnh, Nguyễn Long và
một số diễn viên Phi Luật Tân, phim còn có tên là "Year of the
Tiger" vì khi tung ra thị trường nhằm lúc Chiến Tranh Việt Nam không
được thuận lợi đối với công chúng Hoa Kỳ nên Hollywood cho đổi tên phim.
Marshall Thompson vừa là đạo diễn vừa thủ vai chính của phim, một thiếu
tá Thủy Quân Lục Chiến Mỹ bị Việt Cộng bắt sau khi trực thăng bị bắn
hạ. Cùng thời gian đó một bệnh viện bị tấn công và địch quân bắt đi ông
bác sĩ và người con gái, vợ ông thì tử nạn. Một người câm trước đó đã
từng được vị bác sĩ cứu giúp dẫn đường cho toán quân giải cứu thiếu
tá Mỹ, bác sĩ và cô con gái. Trong lúc loạn lạc khói lửa, vị thiếu tá
phải lòng cô gái. Phim có vài đặc điểm: nội ngoại cảnh được quay hoàn
toàn tại Việt Nam ngay trong thời kỳ chiến tranh và dùng đến đơn vị quân
đội Việt Nam Cộng Hòa thật để quay những cảnh hành quân chiến trường.
Cốt chuyện và thời điểm quay đều xảy ra trước năm 1965 nên chỉ có cố
vấn chứ chưa có sự hiện diện của quân đội chiến đấu Hoa Kỳ.

Borsalino
(1970) phim găng tơ, Jean-Paul Belmondo. Alain Delon, Catherine Rouvel, Michel
Bouquet, Françoise Christophe, Corinne Marchand. Phim rất ăn khách ở Sài
Gòn năm xưa, một phần vì có sự góp mặt của hai tài tử gạo cội
Pháp Jean-Paul Belmondo và Alain Delon trong vai hai tay du đảng trở thành
anh chị bự rồi thanh toán các băng đảng khác tại thành phố Marseilles
trong những năm 30 để rồi một trong hai người cũng phải bị loại. Phim
có cảnh thật vui nhộn khi một xe chở đầy mèo đói được thả ngay giữa
chợ cá. Jean-Paul Belmondo và Alain Delon ăn mặc thật bảnh bao theo kiểu
găng tơ có vắt cái khăn trắng trên cổ, mốt này được anh ca sĩ Paolo
Doãn bắt chước nhiệt tình mỗi khi đi ca hát.
.jpg)
Cherchez
L'Idole (1963) Phim ca nhạc, Dany Saval, Franck Fernandel, Mylène Demongeot
và một số rất đông ca nhạc sĩ nỗi tiếng nhất của Pháp thời bấy
giờ như Sylvie Vartan, Eddy Mitchell, Les Chaussettes Noires, Charles
Aznavour, Johnny Hallyday, chưa kể đến những người danh tiếng chỉ góp
mặt cho vui như Daniel Gélin, Juliette Gréco, Marie Laforêt, Jean Marais,
Françoise Sagan. Một anh chàng nghe lời xúi giục của người yêu đi ăn
cấp một viên ngọc quí rồi hối hận từ bỏ người yêu đi tìm lại viên
ngọc quí đã được giấu trong một cây đàn guitar thuộc về một trong năm
ca sĩ đang đi trình diễn khắp nơi. Phim này được khán giả xi-nê trẻ
thời đó đón nhận một cách say mê và ngây ngất với nét trẻ đẹp duyên
dáng tuyệt trần của Sylvie Vartan và bài hát thật tình tứ "La
Plus Belle Pour Aller Danser". Chỉ cần mua vé vào xem Sylvie hát là
đáng tiền một cái vé rồi!

Cimarron (1960) phim cao bồi, Glenn Ford, Maria Schell, Anne Baxter, Arthur
O'Connell, Russ Tamblyn, Vic Morrow. Vào năm 1889, ở tiểu bang Oklahoma có
cuộc đổ xô đi khẩn đất. Gia đình họ Cravet tạo nên sự nghiệp với tờ
báo Oklahoma Wigwam nhưng Glenn Ford, trong vai người chồng, lúc nào cũng
có máu phiêu lưu đã bỏ lở cơ hội trở thành thống đốc khiến cho
người vợ không khỏi buồn phiền.

Deux
Hommes dans la Ville (1973) phim xã hội, Jean Gabin, Alain Delon, Michel
Bouquet. Gino, một tù nhân thọ án tù 10 năm nhưng được thả sớm hơn 2 năm
nhờ vào hạnh kiểm tốt và lòng từ tâm của viên giáo hóa đứng tuổi
Germain vì ông này tin rằng con người có thể hoàn lương. Gino cũng thật tâm
muốn vậy để vui hưởng hạnh phúc bên người vợ hiền đã từng chờ đợi
mình suốt 10 năm trường. Nhưng phần số của Gino không được may mắn, cây
muốn lặng mà gió chẳng đặng dừng, viên thanh tra Goitreau, người đã truy
bắt, không tin vào thiện ý của Gino nên lúc nào cũng theo dõi rình rập
để có dịp bắt lại. Rồi mây đen kéo đến, người vợ yêu quí của Gino qua
đời trong một tai nạn do người khác gây ra, Gino quá nóng giận và một
lần nửa vấp ngả. Lần này thật bi thảm vì đoạn đầu đài đang chờ đợi
Gino. Mới xem qua thì tưởng chừng như phim nói về những kẻ xấu số có
chạy trời cũng không khỏi nắng. Thật sự đây là một thông điệp của
đạo diễn José Giovanni phản ứng lại với án tử hình, nên hay không nên
chấm dứt một đời người và như trường hợp của Gino thì quả là quá khắc
khe. Pháp luật của các quốc gia trên thế giới đã dùng án tử hình để làm
gương và để loại bỏ hẳn những phần tử xấu xa ra khỏi xã hội. Thế
rồi có một quan điểm cho rằng con người dù là nhân danh pháp luật vẫn
không có quyền thay thế thượng đế để cất đi mạng sống một con người.
Quan điểm này đã thuyết phục được một số quốc gia dẹp bỏ án tử hình.
Nhưng rồi gần đây tội phạm lại xảy ra quá nhiều nên án tử hình phải
được lập lại.

Easy
Rider (1969) phim xã hội, Peter Fonda, Dennis Hopper, Jack Nicholson, Karen
Black. 'Easy Rider' vào thập niên 60 nói theo tiếng lóng Hoa Kỳ có
nghĩa là một người đàn ông sống bám vào người tình nhưng tựa phim
này không diễn đạt theo ý nghĩa đó mà nói về hai tay 'yên hùng xa
lộ' đi giang hồ thật sự và không hề nhờ vả đến đàn bà. Wyatt (Peter
Fonda) và Billy (Dennis Hopper) thành công một 'phi vụ' ma túy. Với số
tiền có được, hai chàng yên hùng ngựa sắt quyết định đi từ California
sang Louisiana để vui hưởng lể Mardi Gras. Wyatt còn có nick name là
'Captain America', trang phục và chiêc mô tô của anh vẻ đầy quốc kỳ Mỹ,
còn Billy thì mặc cái áo da có dây tua tụa lòng thòng theo kiểu
người da đỏ. Trên con đường thiên lý từ miền tây sang miền đông Hoa Kỳ,
họ gặp đủ mọi gay cấn từ chuyện gia nhập vào cộng đồng Hippy đến
chuyện rắc rối với pháp luật. Cuối cùng họ cũng đến đích vui chơi
lể Mardi Gras nhưng còn những nguy hiểm chết người khác đang chờ đợi
họ. Có thể nói giới trẻ Hoa Kỳ sống trong thời kỳ 70 đều đã xem qua
phim này. Tuy không phải là một phim vĩ đại theo kiểu những đại xuất
phẩm của Hollywood nhưng Easy Rider lại được chú ý hơn rất nhiều phim
khác vì phim được xem như một biểu tượng cho giai đoạn sôi động và
phong phú nhất của văn hóa Mỹ trong bối cảnh thời phản chiến. Phim
gây ảnh hưởng tận Âu Châu nên đã được mấy ông Pháp cho chiếu ở rạp
Alliance Française Sài Gòn và tôi đã xem phim này ở đây. Lúc đó, tôi
vẫn chưa hiểu tại sao Easy Rider lại được khán giả xi-nê năm châu quan
tâm đến như vậy. Vài ba năm sau, sống ở Mỹ, có dịp đi giang hồ từ
Florida sang California, từ miền đông sang miền tây rồi ngược lại, đường
đi mỗi bận khoảng 4.000 cây số và cũng trải qua nhiều cam go, tôi mới
thấy thật sự thấm thía với đề tài của Easy Rider. Tôi đã lái xe đi
một mình qua lại như thế mấy lần, đã cho một cô gái Mỹ đi có giang
và nhiều chuyện khác không kém ly kỳ đã xảy ra, đã vui chơi hưởng lể
Mardi Gras suốt cả tuần liền ở New Orleans nên nghĩ lại mới thấy sự
lôi cuốn của phim. Khi thực hiện Easy Rider, Peter Fonda, Dennis Hopper và
Terry Southern muốn nói lên thái độ bất đồng của họ đối với giới
cầm quyền, với những gì xảy ra trong xã hội Hoa Kỳ và nhất là khát
vọng của thế hệ trẻ yêu nước luôn đi tìm một chân lý sống trong đó
có quan niệm yêu theo lối Hippy hoặc 'yêu người, yêu đời' nói theo tựa
một bài hát của cố nhạc sĩ Lê Hựu Hà. Hollywood, ngoài kỹ nghệ làm
phim giải trí́ ra, còn có khuynh hướng luôn đi tìm những đề tài mới
lạ kể cả những đề tài đi ngược lại với trào lưu văn hóa đương thời
nên gọi là 'counter culture' chẳng hạn như việc đưa những cảnh hút
sách ma túy lên màn ảnh rất thường xuyên do những nhân vật chính của
phim hành động. Đối với tôi, giới trẻ khi xem phim sẽ dễ bị tác động
rất nhiều và rất có thể sẽ bắt chước lối sống đó. Nhưng Hoa Kỳ là
một xứ dân chủ, quyền tự do phát biểu tư tưởng được Hiến Pháp long trọng
bảo vệ. Tuy vậy, trong quá khứ đã có lần giới cầm quyền ra tay mạnh
mẽ quạt tơi bời một số nhà làm phim Hollywood, nhất là giới viết
kịch bản, ̣đưa những người có đầu óc thiên Cộng Sản vào 'blacklist'
để áp lực những nhà tư bản loại họ ra khỏi hàng ngủ giới làm phim
Hollywood vào đầu thập niên 50 khi thời kỳ 'Cold War' bùng nổ cùng với
chiến tranh Triều Tiên. Nói tóm lại, Easy Rider là một phim thuộc loại
'road movie' phải có mặt trong mọi sưu tập phim nhưng muốn thưởng thức
trọn vẹn cần phải trải qua ít nhiều lối sống ngao du lang bạt hay ít
ra thấu hiểu nền văn hóa nhiều màu sắc của Hoa Kỳ.

Europa
di Notte (1959) (Nuits d'Europe / Âu Châu Về Đêm) phim ca vũ nhạc xiệc,
Coccinelle, Channing Pollock, Carmen Sevilla, The Platters, The Fraternity
Brothers. Làm thế nào để xem được những màn trình diễn nổi tiếng trong
các hộp đêm ở Paris
và các thành phố Âu Châu khác mà không phải tốn rất nhiều tiền đi đến đó
và mua vé thật đắt đỏ? "Âu Châu Về Đêm" đã trả lời đúng ngay
câu hỏi, chỉ cần mua một vé xi-nê, khán giả Sài Gòn đã xem được những
màn trình diễn độc đáo lạ mắt của những nghệ sĩ lừng danh thế giới
như Coccinelle với màn thoát y vũ. Tôi không nhớ màn này có bị cắt xén gì
không, hình như đã bị cắt mất nguyên vẹn luôn nên thấy có trong danh sách
giới thiệu đầu phim nhưng hoàn toàn không có trong phim. Dù sao thì khán
giả vẫn thật hài lòng với những tiết mục khác của ảo thuật gia
Channing Pollock, Carmen Sevilla với vũ điệu flamenco Tây Ban Nha, những ca
sĩ nổi tiếng Domenico Modugno, The Platters, Henri Salvador, The Fraternity
với nhạc phẩm "Passion Flower" (Tout l'Amour) mà sau này giới ca
sĩ Sài Gòn đã hát đi hát lại hàng nhiều năm liền. Phim này đã mở đầu cho
một loạt phim kế tiếp có hình thức tương tợ như "Thế Giới Về
Đêm"... Ngay cả điện ảnh Việt Nam cũng đóng góp với phim
"Saigon By Night".

Faibles
Femmes (1959) phim tình cảm vui nhộn, Alain Delon, Mylène Demongeot, Pascale
Petit, Jacqueline Sassard, Anita Ruff. Một anh chàng đẹp trai quá đắc đào có
đến 3 nàng kiều nữ theo anh mê mệt. Thế nhưng anh chàng hào hoa này chưa
chịu dừng lại ở con số 3 mà còn muốn tiến thêm đến con số 4 là một cô
gái giàu có nước khác. Thế là 3 cô nàng đầu tiên kết hợp với nhau và cùng
đi đến quyết định hạ thủ anh chàng bằng cách đầu độc... Cá nhân tôi
cũng đã có lần lên đến con số 3 và nhận thấy thực sự mình chẳng sung
sướng hạnh phúc gì cả. Có chăng chỉ là thỏa mãn cái tự ái (ego) vì đã là
một tay chơi (playboy) vậy thôi chứ thực ra nhiều lúc cảm thấy mình
không khác gì một con chó tháng bảy.

Fanny
(1961) phim tình cám, Leslie Caron, Charles Boyer, Horst Buchholtz, Maurice
Chevalier. Có một bài nhạc nói về người đi biển do nhạc sĩ Trường
Hải sáng tác tựa là "Tình Ca Người Đi Biển". Tôi xin mượn
tựa này và bỏ đi chử 'ca' để đặt tựa phim bằng tiếng Việt cho
"Fanny" vì phim này không có dính líu gì đến ca hát cả.
Người đi biển thì dù là thời chiến hay thời bình cũng đều làm cho
người ở lại nhuốm buồn không nhiều thì ít và hạnh phúc gia đình xem
như khó toàn vẹn. Fanny kể lại chuyện một cô gái cùng tên sinh sống
ở Marseilles, một thành phố biển miền nam nước Pháp. Từ thuở còn
thơ, Fanny và Marius đã thân thiết rồi lớn lên yêu nhau nhưng Marius luôn
có mộng hải hồ. Fanny biết rỏ điều đó, vì tình yêu say đắm nên chấp
nhận tất cả. Thế rồi Marius đi theo tiếng gọi của sóng biển để lại
cho Fanny một bầu tâm sự. Cũng may có một ông bạn già của gia đình
đã rất tốt bụng đứng ra lấy Fanny làm vợ và nuôi đứa bé như con
ruột của mình. Rồi một ngày nọ, Marius xuất hiện trở về... Tôi vẫn
còn nhớ thuở phim Fanny được chiếu ở Sài Gòn, một cô bạn của tôi
thường hay nhắc lại cảnh Fanny tâm sự với cha là đã hiến thân cho
Marius, ông bèn bật một diêm quẹt rồi nói "con thấy đó, đời
người con gái giống như cái diêm quẹt này, nó chỉ cháy có một lần
mà thôi".

Gunfight
at the O.K. Corral (1957) phim cao bồi, Burt Lancaster, Kirk Douglas, Rhonda
Fleming, John Ireland, Earl Holliman, Dennis Hopper. Cảnh sát trưởng huyền
thoại Wyatt Earp khi về hưu sống với các em ở Tombstone,
Arizona lại
gặp gia đình đang có tranh chấp với nhà họ Clanton. Chuyện đến hồi
phải giao đấu một mất một còn, Wyatt được sự giúp sức của một tay
cờ bạc và cũng là một tay súng cừ khôi tuy hiện đang trong tình
trạng sức khỏe suy yếu. Phim mỡ đầu bằng bài hát cùng tựa do nhà
soạn nhạc lừng danh Dimitri Tiomkin sáng tác với giọng ca thật truyền
cảm của Frankie Laine. Nhiều năm trước, phim đã được chiếu đi chiếu
lại nhiều lần nhưng là ấn bản cũ. Đây là phim cuối cùng tôi xem ở
Việt Nam. Chỉ hơn 24 giờ sau, tôi đã đến Clark Air Base, Phi Luật Tân
vào hạ tuần tháng 4 năm 1975.

High
Noon (1952) (Le Train Sifflera Trois Fois) phim cao bồi, Gary Cooper, Grace
Kelly, Katy Jurado, LLoyd Bridges. Nếu chỉ được xem một phim cao bồi mà
thôi thì đây là phim phải xem. Gary Cooper, được mệnh danh là ông vua cao
bồi thời đó còn hay gọi là 'ga ri cọp', đóng vai một viên cảnh sát
trưởng vừa mới cưới vợ và lên xe đi hưởng tuần trăng mật. Hôm đó
cũng là ngày một tay cướp ra khỏi tù và sẽ đi chuyến xe lửa đến
đúng 12 giờ trưa. Đồng bọn của hắn đang chờ ở nhà ga và sẽ kết hợp
với nhau để thanh toán viên cảnh sát trưởng trả thù cho việc bị bắt
lúc trước. Một bên là tình, một bên là nghỉa vụ, viên cảnh sát
trưởng nhất định quay xe trở lại để đối đầu với băng cướp, nhưng dân
làng lại quá hèn nhát, ai cũng quay lưng lại và gần như không còn ai
để phụ giúp. Đóng vai người vợ mới cưới là Grace Kelly về sau này
trở thành hoàng hậu của tiểu quốc Monaco. Phim có bài hát bất hủ
mang cùng tên mở đầu bằng "Cưng ơi đừng bỏ anh trong ngày cưới
của chúng ta hôm nay, chờ anh, hãy chờ anh nhé. Anh không biết số phận
nào đang chờ đợi anh, anh chỉ biết là phải gan dạ và anh phải đối
đầu với kẻ thù ghét anh hoặc nằm dưới mộ như một kẻ hèn nhát...anh
không sợ chết nhưng anh sẽ làm gì đây nếu em bỏ anh... anh cần có em
bên cạnh, hãy chờ anh, hãy ráng chờ anh..."

Hon
Dansade en Sommar (1951) (Elle N'A Dansé Qu'un Seul Été / Tóc Em Chưa Úa
Nắng Hè) phim tình cảm, Edvin Adolphson, Ulla Jacobsson, John Elfström,
Folke Sundquist. Thành thật mà nói, tôi chưa được xem phim này nhưng vẫn
còn nhớ vì cái tựa dễ thương của nó và là phim cấm trẻ em. Đây là
một phim của Thụy Điển nên chuyện cấm trẻ em là bình thường vì trong
phim có nhiều màn tắm khỏa thân của một chàng sinh viên và một cô
thiếu nữ yêu nhau nhưng gặp phải quá nhiều gian truân thử thách.
Imitation
General (1958) (Đại Tướng Giả Mạo) phim chiến tranh vui nhộn, Glenn Ford,
Red Buttons, Taina Elg, Dean Jones. Trong Đệ Nhị Thế Chiến, thượng sĩ
Savage giả làm một vị tướng vừa tử trận để mong giữ vững tinh thần
chiến hữu đang tìm cách thoát khỏi vòng giây của quân lính Đức Quốc
Xã. Savage có thể thành công miễn sao tránh được một binh sĩ biết
rất rỏ lai lịch của anh.

Imitation
of Life (1959) (Mirage de la Vie / Ảo Ảnh Cuộc Đời) phim tình cảm, Lana
Turner, John Gavin, Sandra Dee, Robert Alda, Susan Kohner, Juanita Moore, Troy
Donahue. Phim đã làm rơi lệ biết bao khán giả Sài Gòn. Câu chuyện về
một nữ tài tử da trắng kết bạn với một phụ nữ da đen, hai người
đều có con gái. Con gái của người phụ nữ da đen, vì lai da trắng, nên
không muốn ai biết tông tích của mình, nhất là về người mẹ da màu.
Bao nhiêu ngang trái xảy ra từ đó...Tôi biết có nhiều khán giả thuê xe
đưa cả gia đình từ quê lên Sài Gòn để xem phim này.

Ivanhoe
(1952) phim kiếm hiệp thời Trung Cổ Âu Châu, Robert Taylor, Elizabeth
Taylor, Joan Fontaine, George Sanders. Hiệp sĩ Ivanhoe theo con đường chính
nghĩa hợp lực với Robin Hood cùng phò đưa vua Richard trở lại ngai
vàng đang bị một hoàng tử ác độc soán ngôi. Tôi được xem
"Ivanhoe" tại nhà hát của trường Taberd nơi tôi theo học. Vào
tuổi mới lớn thời còn học sinh trung học nhưng khán giả đã biết chiêm
ngưởng sắc đẹp phụ nữ, lúc nữ tài tử Elizabeth Taylor xuất hiện trong
phim thì cả hội trường ồ lên một tiếng. Mà quả thật Elizabeth Taylor
đẹp tuyệt vời. Chẳng những có thể nói Elizabeth Taylor là nữ tài tử
đẹp nhất từ xưa đến nay mà vào thời điểm của phim này, sau khi đóng
phim nhi đồng từ lúc mới 10 tuổi, Elizabeth Taylor đi vào tuổi đẹp
nhất như một bông hoa vừa mới nở. Đây là phim thứ nhì, sau phim
"Quo Vadis" (1951), Liz đóng chung với nam tài tử Robert Taylor
tuy cùng họ nhưng không có bà con thân thích gì với nhau.

Jubal
(1956) phim cao bồi, Glenn Ford, Ernest Borgnine, Rod Steiger, Charles
Bronson. Phim đầy tình tiết éo le. Jubal là một chàng trai hào hiệp
và chân chính, anh được một chủ trang trại cứu vớt và tin dùng, điều
này khiến cho tay toán trưởng của trang trại đố kỵ ghanh ghét. Ngoài
ra, Jubal lại còn được người vợ trẻ của chủ trang trại cảm mến.
Không được đoái hoài vì Jubal một mực nhớ ơn người đã cứu vớt mình,
cô vợ trẻ bèn bày ra đủ chuyện. Trong bối cảnh rối ren đó còn có
thêm những trận chạm trán giữa các trang trại và có một nhóm giáo
phái đến nương náu trên đồng cỏ của trang trại càng làm mọi chuyện
gút mắt thêm.

La Nuit
Américaine (1973) (Day For Night) phim tình cảm, Jacqueline Bisset,
Valentina Cortese, Jean-Pierre Léaud, Dani, Jean-Pierre Aumont, Alexandra
Stewart, François Truffaut, Nathalie Baye. Có nhiều đặc điểm để nói về
phim này. Trước hết, đây là một phim nổi tiếng để đời của François
Truffaut đã đoạt 3 giải Oscar tại Hollywood năm 1973: Phim Ngoại Quốc Hay
Nhất, Valentina Cortese Nữ Tài Tử Phụ Xuất Sắc Nhất, François Truffaut
Đạo Diễn Xuất Sắc Nhất. Điểm thứ nhì là tựa của phim. Nếu dùng
tựa tiếng Anh 'Day For Night' (Ngày Làm Đêm) thì sẽ dễ hiểu hơn nhưng
nếu dùng tựa tiếng Pháp nguyên thủy 'La Nuit Américaine' (Đêm Hoa Kỳ)
sẽ rất dễ hiểu sai hoặc tối nghĩa. Vậy Đêm Hoa Kỳ hay Ngày Làm Đêm
là gì? Đó là một kỹ thuật quay phim ban ngày cho những cảnh ban đêm
bằng cách đóng ống kính nhỏ lại để cho hình ảnh thiếu sáng
(underexposed). Điểm thứ ba, Truffaut đưa ra cốt chuyện độc đáo, một
cuốn phim trong một cuốn phim, những gì xảy ra nơi phim trường có khi
còn éo le hơn cả éo le của phim đang quay.

Le Genou
de Claire (1970) (Claire's Knee) phim tâm lý, Jean-Claude Brialy, Aurora
Cornu, Béatrice Romand, Laurence de Monaghan. Mọi sự trên đời này luôn
được thích hay bị chê. "Le Genou de Claire" không tránh khỏi
tình trạng đó. Phe chê thì cho rằng phim này lòng vòng không nói lên
điều gì thiết thực. Tôi ở bên phe khen ngợi đạo diễn Eric Rohmer đã
đưa ra một chủ đề rất đáng chú ý. Tuy có một vài điểm không hoàn
toàn đồng ý với đạo diễn nhưng sau khi tìm hiểu rỏ hơn về tâm lý xã
hội Pháp, tôi cho rằng rất chấp nhận được quan điểm của phim. Nhà
ngoại giao trẻ Jérôme sắp sửa lập gia đình, anh trở về vùng hồ núi Annecy để bán căn nhà.
Tại đây, anh gặp lại một cô bạn thân thiết là văn sĩ đang cư ngụ trong
một gia đình có hai cô con gái trẻ. Trước tiên, anh gặp cô em Laura
trước, cô bé đem lòng thương mến nhưng khi biết anh sắp lấy vợ nên
thối thoát. Kế tiếp, anh gặp cô chị là Claire với đường nét thanh
nhã khiến anh để ý không nguôi mặc dù Claire đã có bồ. Đặc biệt,
Jérôme luôn bị ám ảnh bởi cái đầu gối thon nhỏ xinh xắn của Claire
và luôn mong muốn có dịp được sờ vào nơi mà anh cho là gợi cảm bậc
nhất của một người con gái. Jérôme tâm sự là sờ được và để cho sờ
không phải là chuyện dễ... Phim được nhiều giải thưởng và là một
phim Pháp vốn hay nói nhiều lại được khán giả Hoa Kỳ ưa thích. Tôi
đã có nhiều dịp tiếp xúc với các phụ nữ Hoa Kỳ và hơi ngạc nhiên
là họ đều đã xem và thich "Claire's Knee".

Les Choses
de la Vie (1970) phim tình cảm, Michel Piccoli, Romy Schneider, Léa Massari.
Pierre, một kiến trúc sư trung niên đang lái xe trên một con đường làng
thì gặp tai nạn. Nằm trên bải cỏ hấp hối, ông hồi tưởng lại đoạn
đường đời khá trắc trở đã đi qua: người vợ cũ, thằng con trai, và cô
tình nhân quá ghen tuông. Pierre
vừa gửi xong một bức thư tuyệt tình nhưng lại cảm thấy hối tiếc nên
cố chạy nhanh hầu kịp chặn bức thư đó, chẳng may lại gặp nạn...

Les Félins
(1964) (Joy House) phim tâm lý xã hội, Alain Delon, Jane Fonda, Lola
Albright. Phim do đạo diễn Pháp kỳ cựu René Clément thực hiện. Marc là
một gả du thủ mén nhờ có dáng bảnh bao đẹp trai nên thường hay hào hoa
với phái đẹp, không ngờ lại vớ phải một kiều nữ đã có chủ lại là
hạng găng tơ thứ dữ nên phải chạy trốn. Marc tưởng đã gặp may mắn khi
được một mệnh phụ Hoa Kỳ và cô cháu gái thu nhận làm tài xế riêng. Tránh
vỏ dưa lại gặp vỏ dừa. Giờ đây, Marc lại phải đương đầu với tình thế
mới không kém phần ly kỳ. Tôi được xem phim này ở đơn vị Công Binh, phim
của quân đội Hoa Kỳ nên không có phụ đề Việt ngữ. Về sau, xem lại phim
này ở rạp Rex với phần phụ đề đầy đủ nên hiểu rỏ thêm tình tiết. Tuy
là phim đen trắng nhưng giới phê bình đã ca ngợi góc cạnh thu hình tuyệt
hảo làm cho phim càng thêm hấp dẫn. Phần nhạc phim do Lalo Schifrin
(Mission: Impossible) đảm trách khiến cho khán giả khi xem xong phim vẫn
còn âm hường đâu đó.

Liane,
das Mädchen aus dem Urwald (1956) (Liane La Sauvageonne / Liane Cô Gái Rừng
Xanh) phim phiêu lưu mạo hiễm, Marion Michael, Hardy Krüger. Tôi không chắc
đây là cái tựa phim mà khi xưa các rạp xi-nê Sài Gòn dùng hay không,
nhưng nếu dịch sát nghĩa thì cũng vậy thôi. Phim của Tây Đức rất hấp
dẫn cho cánh đàn ông vì Liane sống trong rừng xanh ở Phi Châu chỉ mặc
có miếng vải nhỏ che phía dưới còn ngực thì luôn để trần, thỉnh
thoảng bị làn tóc dài che lại. Liane cứu phóng viên người Đức bị
nạn và được anh này đưa về Đức. Mọi chuyện rắc rối bắt đầu xảy ra
vì có người không muốn Liane còn sống...

Parrish
(1961) phim tình cảm, Troy Donahue, Claudette Colbert, Karl Malden, Dean
Jagger, Connie Stevens, Diane McBain, Sharon Hugueny. Câu chuyện xoay quanh
anh chàng thanh niên Parrish đẹp trai, đi đâu cũng được các cô gái vùng
trồng thuốc lá Connecticut
River Valley
để ý và chiếu cố. Connie Stevens thủ vai một cô gái xinh đẹp nhưng có
nhiều quá khứ, không được trong sáng như Sharon Hugueny trong vai một cô
gái trẻ trung hơn. Phim có bài nhạc đệm rất hay khiến cho khán giả
sau khi xem phim vẫn còn cảm giác dễ chịu lưu luyến.

Per un
Pugno di Dollari (1964) (A Fistful of Dollars / Pour une Poignée de Dollars)
phim cao bồi, Clint Eastwood, Marianne Koch, Gian Maria Volontè, José Calvo.
Đầu thập niên 60, phim cao bồi không còn ăn khách đối với khán giả Hoa
Kỳ nên Hollywood lơi dần việc sản xuất
phim loại này. Trong khi đó, khán giả Âu Châu vẫn còn ưa chuộng nên một
số nhà làm phim Ý đã cho ra đời những phim cao bồi cây nhà lá vườn, tất
cả đều của Âu Châu từ đạo diễn, tài tử, cốt chuyện, nội cảnh, ngoại
cảnh. Vì thế khi xem phim, ngoài sự nhàm chán vì rập theo khuôn mẫu của
Hollywood, chắc chắn khán giả nhận ra sự khác biệt đôi khi đến buồn
cười. Những phim Ý này được gọi một cách ví von là 'spaghetti westerns'
(cao bồi mì Ý). Thế rồi đạo diễn Ý Sergio Leone với phim "Per Un
Pugno di Dollari" đã làm thay đổi hẳn khuôn mặt của loại phim cao
bồi từ đó trở đi. Phim được phỏng theo "Yojimbo", một kiệt tác
phẩm của đạo diễn trứ danh Nhật Bản Akira Kurosawa, kể lại chuyện
một tay samurai đơn thân đến một làng nọ đang có tranh chấp giữa hai băng
đảng rồi dùng tài trí khiến cho hai băng đảng tự tiêu diệt lẩn nhau để
rồi cuối cùng tay samurai ra đi thủ lợi với một số tiền lớn lao.
Sergio Leone thay thế tay samurai bằng một tay súng giang hồ cưởi ngựa
đến một thị trấn nọ. Thế là có được một cốt chuyện ly kỳ hấp dẩn.
Nhưng cốt chuyện không thôi chưa phải là cái nổi bật của phim, Sergio
Leone đã đưa vào phim những nét mới lạ mà các phim cao bồi từ trước chưa
có. Trước tiên, người hùng của phim không còn đạo mạo nửa và cũng tham
tiền như ai. Phim cao bồi của Hollywood tuy có bắn súng nhưng vẫn có một
qui luật ngầm chỉ cho phép phô diễn bạo lực tới một giới hạn nào đó,
đạo đức và luân lý vẫn là chuẩn. Phim của Sergio Leone và các loạt phim
cao bồi spaghetti về sau này cho bắn giết loạn lên miễn là đừng bắn
giết dân lành vô tội. Về phần kỹ thuật điện ảnh, "Per un Pugno di
Dollari" áp dụng những lối thu hình ảnh thật rộng và cực cận mới
lạ cho thấy thật rỏ nét mặt của các nhân vật chính, cái nhíu mắt, cái
cắn răng với điếu xì gà nhỏ trên môi, tiếng bước đi đều đặn chậm rải
của đôi giày bốt da có thêm tiếng khua của cái sao đinh thúc ngựa là cả
một sự sắp xếp tỉ mỉ thu hút khán giả đến mức cực đỉnh. Chưa hết,
lại còn phần nhạc đệm độc đáo từ giai điệu đến lối tấu nhạc chuyên
xữ dụng những nhạc khí có âm thanh ru hồn hoặc căng thẳng sống động làm
cho khán giả sau khi xem phim vẫn còn nhớ mãi những pha then chốt. Phải
nói đến công lao của Ennio Morricone đã soạn nhạc thật đặc sắc cho phim.
Người hùng, nhân vật chính của phim này cũng như của hai phim kế tiếp
"Per Qualche Dollaro in più" (For a Few Dollars More), "Il
Buono, il Brutto, il Cattivo" (The Good, the Bad, the Ugly) trong Trilogy
(bộ phim 3 tập) đều không có tên và điểm này được quảng cáo rầm rộ tạo
thêm sự mới lạ. Tuy nhiên, khi tung phim này vào thị trường Hoa Kỳ mãi
đến ba năm sau, giới phát hành sợ gặp phải chê bai nên cho đổi tên những
người làm phim thành tên Mỹ như Sergio Leone thành Bob Robertson, Ennio
Morricone thành Dan Savio. Không ngờ phim này lại quá thành công và đã đưa
tài tử Hoa Kỳ Clint Eastwood lên đài danh vọng. Khán giả Sài Gòn thời đó
đón nhận phim cao bồi này tương đối khá nồng nhiệt và cảm thấy có gì
mới lạ hơn những phim cao bồi khác đã được xem. Tài tử Clint Eastwood đã
gây được sự chú ý đặc biệt. Riêng cá nhân tôi thuở đó vẫn không nhớ
rỏ khuôn mặt của tài tử này nên về sau nhầm lẩn với khuôn mặt của tài
tử Franco Nero trong vai Django.

Pocketful
of Miracles (1961) phim xã hội vui nhộn, Glenn Ford, Bette Davis, Hope
Lange, Arthur O'Connell, Peter Falk, Ann-Margret. Bà lảo bán táo dạo Annie
cho con gái đi du học ở Âu Châu từ lúc nó còn bé. Nay cô gái đã lớn
và sắp thành hôn với một công tử quí tộc Tây Ban Nha. Làm thế nào
bây giờ? Bà Annie bèn nhờ đến Dave the Dude, một tay găng tơ hào hoa,
giúp đở bà giả làm một bà triệu phú lừng danh để cho cô con gái
khỏi phải mất mặt với nhà chồng.

Rashomon
(1950) (Lã Sanh Môn) phim tâm lý xã hội, Toshiro Mifune, Masayuki Mori,
Machiko Kyo, Takashi Shimura. Đây là một trong những phim để đời của đạo
diễn Nhật Akira Kurosawa. Tài tử ruột của ông là Toshiro Mifune thủ vai
một tên thảo khấu chặn đường hành hung vợ chồng một hiệp sĩ lúc họ
đi ngang qua một khu rừng. Chuyện xảy ra dẫn đến cái chết của người
hiệp sĩ, tên cướp bị bắt và bị đem ra tòa án xét xữ nhưng sự thật
không phải dễ dàng được sáng tỏ. Mỗi người liên quan đến vụ án: tên
cướp, người vợ, gả tiều phu mục kích hiện trường, luôn cả hồn của
người hiệp sĩ được một bà đồng bóng gọi về đều kể lại sự việc mỗi
người một lối khác nhau. Đâu là sự thật? Đạo diễn kỳ tài đã xữ dụng
rất nhiều kỹ thuật điện ảnh cho phim, ông còn cho pha mực đen vào nước
để làm cho cảnh mưa to càng thêm phần bi thảm. Phim đoạt giải Oscar Phim
Ngoại Quốc Hay Nhất

Sois
Belle... et Tais-Toi! (1957) phim xã hội, Jean-Paul Belmondo, Alain Delon,
Mylène Demongeot, Henri Vidal, Roger Hanin, Darry Cowl. Virginie là một
thiếu nữ xinh đẹp gợi cảm vừa trốn khỏi trại giáo hóa rồi gia nhập
lại đám thanh thiếu niên lêu lỏng làm chuyện mờ ám... Câu chuyện
chẳng có gì đáng nói hoặc phải có sống ở xã hội Pháp thì mới
thấy phim có ý nghĩa. Dù sao, ở vào thời điểm những năm xưa, khán
giả Sài Gòn khá dễ tính, miễn có ngắm được người đẹp Mylène
Demongeot cũn cỡn là đủ rồi. Ngoài ra, phim còn có sự góp mặt của
các tài tử Pháp về sau này rất nổi tiếng như Jean-Paul Belmondo, Alain
Delon.

Summer
of '42 (1971) phim tình cảm, Jennifer O'Neill, Gary Grimes. Phim rất ăn
khách một dạo ở Sài Gòn được cả giới nam lẩn nữ khán giả ưa
chuộng. Trong bối cảnh hậu phương của Đệ Nhị Thế Chiến, những cậu
bé tuổi mới lớn vui chơi với các bạn trai gái đồng lứa nhưng có một
cậu trai lại phải lòng yêu thương một phụ nữ lớn tuổi hơn có chồng,
người ấy đã lên đường chinh chiến ở tận một phương trời xa. Thế rồi
một hôm, bức thư đen tối báo tin dữ đến với người phụ nữ. Quá cô đơn
và cần một niềm an ủi, người phụ nữ đã ngã vào vòng tay của cậu
thiếu niên và cho cậu ta một mùa hè nhớ đời. Nhạc đệm của phim thật
truyền cảm do nhạc sĩ Michel Legrand sáng tác đoạt giải Oscar Nhạc
Phim Hay Nhất năm 1972.

The
Fastest Gun Alive (1956) (Bắn Chậm Thì Chết) phim cao bồi, Glenn Ford,
Jeanne Crain, Broderick Crawford, Russ Tamblyn. Một tay súng cừ khôi giải
nghệ để sống một cuộc đời bình dị bên người vợ hiền. Dân trong làng
đồng lòng trợ giúp ý nguyện của anh nhưng có một tên đầu đảng của
băng cướp nhất quyết thách anh đấu súng, bằng không hắn sẽ cho đốt
phá thiêu hủy cả làng.

The Four
Horsemen of the Apocalypse (1962) phim xã hội, Glenn Ford, Ingrid Thulin,
Charles Boyer, Lee J. Cobb, Yvette Mimieux, Karlheinz Böhm, Paul Henreid. Câu
chuyện về hai gia đình rất thân thiết với nhau nhưng vì hoàn cảnh
chiến tranh đã trở thành đối nghịch. Gia đình Desnoyers và Von Hartrott
cùng sinh sống ở Á Căn Đình và trở thành họ hàng với nhau. Thế rồi
Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ, gia đình Von Hartrott trở về Đức, người
cha trở thành một vị tướng Đức Quốc xã và người con Heinrich là một
sĩ quan SS phụ trách cai quản vùng Paris. Gia đình Desnoyers trở thành
công dân Á Căn Đình rồi sau đó cũng di chuyển về vùng Paris. Con trai Julio vẫn là một tay ăn
chơi trong khi em gái là Chichi đi theo kháng chiến Pháp, bị Gestapo bắt
và tra tấn đến chết. Julio lúc bấy giờ mới cảm thấy cần phải dấn
thân đi theo kháng chiến Pháp. Với bộ gió ăn chơi, Julio có nhiều cơ
hội để thu thập tin tức và nhất là mới có thể chạm mặt được
Heinrich...

The Guns
of Navarone (1961) (Les Canons de Navarone) phim chiến tranh, Gregory Peck,
David Niven, Anthony Quinn, Stanley Baker, Richard Attenborough, Anthony
Quayle, James Robertson Justice, James Darren, Irene Papas, Gia Scala, Richard
Harris. Rập theo khuôn mẫu của loại phim chiến tranh hoàn thành sứ mạng
được gao phó, Gregory Peck đóng vai một sĩ quan trung cấp Đồng Minh chỉ
huy một toán đặc nhiệm tìm cách phá hủy hai khẩu đại bác hạng nặng của
Đức Quốc Xã đặt trên núi Navarone. Hai khẩu đại bác này rất lợi hại vì
kềm chế được kế hoạch hành quân của hạm đội Đồng Minh trong vùng Địa
Trung Hải. Toán đặc nhiệm, dù được sự giúp đở hữu hiệu của kháng
chiến quân Hy Lạp, gặp phải rất nhiều khó khăn từ việc đương đầu với
lính Đức đến những vấn đề bất đồng nội bộ và nguy hơn hết là có âm
mưu phản nghịch. Phim có bài nhạc hùng do Dimitri Tiomkin sáng tác rất
hay.

The Last
Man on Earth (1964) phim kinh dị giả tưởng, Vincent Price và một lô tài
tử Ý cũng vì phim này được quay hoàn toàn ở Ý. Vincent Price là tài
tử có một giọng nói thật trầm và ma quái nhất Hollywood. Chỉ bao nhiêu đó thôi cũng đủ
thu hút được giới khán giả mê thích phim kinh dị. Phim lại còn xoay
quanh câu chuyện của một người cuối cùng còn sống sót trên địa cầu
phải đương đầu với đám ma cà rồng. Thật ra phim này còn là một sự
phân tích tâm lý con người ở vào hoàn cảnh không còn đồng loại nào
chung quanh mình cả.

The
Omega Man (1971) phim kinh dị giả tưởng, Charlton Heston và một lô tài
tử không tiếng tăm, cũng rất hợp lý vì chuyện phim nói về một người
cuối cùng trên địa cầu thì còn nhân vật nào nổi bật nửa đâu? Chỉ 7
năm sau phim "The Last Man on Earth", Hollywood cho quay lại cốt
chuyện được sửa đổi đi đôi chút, lần này người cuối cùng không phải
đương đầu với đám ma cà rồng mà đương đầu với đám người bị biến
dạng thành nửa người nửa ngợm. Tuy về phần kỹ thuật điện ảnh, phim
này có nét tân kỳ hơn nhưng lại không được giới phê bình phim ảnh ưa
thích bằng phim trước trong đó yếu tố tâm lý của một người không
đồng loại được mô tả sâu xa hơn.

The
Sheepman (1958) (La Vallée de la Poudre / Vùng Thuốc Súng) phim cao bồi,
Glenn Ford, Shirley MacLaine, Leslie Nielsen. Một kẻ lạ đến làng nuôi bò
nọ đem theo một đàn cừu và nhất định cho cừu ăn cỏ nơi đó bất chấp
mọi sự chống đối của dân làng đang tìm đủ mọi cách để tống khứ anh
chàng nuôi cừu này.
The
Teahouse of the August Moon (1956) (Trà Thất Dưới Trăng Thu) phim xã hội
vui nhộn, Marlon Brando, Glenn Ford, Machiko Kyô, Eddie Albert. Đệ Nhị Thế
Chiến vừa chấm dứt được một năm, Hoa Kỳ đang cai quản Nhật Bản. Đại
uý Fisby được cử đến một làng ở Okinawa để giảng dạy về dân chủ.
Việc đầu tiên là xây một trường học nhưng dân làng lại muốn có một
trà thất trước đã. Làm thế nào để đại úy Fisby có thể đệ trình
lên cấp trên một kế hoạch ngược đời như vậy!
Torpedo
Run (1958) phim chiến tranh, Glenn Ford, Ernest Borgnine, Dean Jones. Trong
Đệ Nhị Thế Chiến, thuyền trưởng của một tiềm thủy đỉnh Hoa Kỳ có
sứ mạng phải đánh đắm chiếc hàng không mẫu hạm Nhật Bản đã tấn
công Trân Châu Cảng. Vợ và con của ông đã bị quân Nhật bắt cùng với
một số tù binh Hoa Kỳ. Quân Nhật lại dùng những người này như một
tấm bình phong bằng người để che chở cho chiếc hàng không mẫu hạm.

Un Homme
et une Femme (1966) (A Man and a Woman) phim tình cảm, Jean-Louis
Trintignant, Anouk Aimée. Một người đàn ông và một người đàn bà, cả hai
đều có con học nội trú ở một trường nhỏ miền quê gần bờ biển. Cuối
tuần, cả hai đến rước con đi chơi rồi quen nhau, yêu nhau... Phim đoạt 2
giải Oscar Phim Ngoại Quốc Hay Nhất và Chuyện Phim Viết Trực Tiếp Cho
Phim Hay Nhất. Tình tiết thật nhẹ nhàng lại được Francis Lai soạn nhạc
để đời cho phim. Bài nhạc cùng tên này cũng được các chuyên viên Đài FM
Hoa Kỳ ưa thích dùng làm nhạc hiệu cho chương trình, cứ đúng 8 giờ 30 tối
là cho phát thanh. Thời đó, nhạc sĩ dương cầm Thoại Tinh làm trưởng ban
nhạc phòng trà Blue Diamond, mỗi đêm khi bài nhạc "A Man and a
Woman" trên làn sóng FM vừa chấm dứt thì nhạc sĩ cho ban nhạc chơi
tiếp bài này luôn nên được khán giả Hoa Kỳ hoan nghênh nhiệt liệt. Về
sau này, Thoại Tinh về làm nhạc trưởng vũ trường Bách Hỹ và thu nhận
tôi vào ban nhạc chơi bass guitar. Mỗi đêm, khi mở đầu chương trình ca nhạc,
chúng tôi hòa tấu bài này và bài cuối cùng để chấm dứt chương trình cũng
là bài này. Tôi chơi nhạc ỡ vũ trường này suốt mấy năm trời cho đến
những ngày loạn ly tháng 4 năm 1975, ampli nhạc cụ vẫn còn để ở vũ
trường, rồi di tản rời khỏi Việt nam đi Hoa Kỳ.

Un Peu
de Soleil dans l'Eau Froide (1971) (Một Chút Nắng Trong Nước Lạnh) phim
tình cảm, Marc Porel, Claudine Auger, Bernard Fresson, André Falcon, Barbara
Bach. Phỏng theo tiểu thuyết của nữ văn sĩ Françoise Sagan, Gilles là
một chàng trai trẻ gặp Nathalie, một phụ nữ trưởng giả đẹp nhưng đã
có chồng. Hai người yêu nhau, sống chung với nhau nhưng cuộc tình không
bền vững rồi bắt đầu đi vào ngõ tối. Một hôm nọ, Nathalie bất chợt
nghe được câu chuyện giữa Gilles và một người bạn trai mà nội dung
không mấy thuận lợi cho cuộc tình nên Nathalie bỏ đi... Cùng giống như
những tiểu thuyết khác của Françoise Sagan, phim này nói lên thân phận
chua chát của người đàn bà khi bắt đầu có tuổi, dù đẹp dù sang
nhưng rốt cuộc vẫn hẩm hiu.

Un
Verano Para Matar (1972) (Summertime Killer / Meurtres au Soleil / Tình Thù
Rực Nắng) phim hoạt động, Christopher Mitchum, Karl Malden, Olivia Hussey,
Claudine Auger, Raf Vallone. Ngoài đời, tài tử gạo cội Robert Mitchum có
hai người con trai James và Christopher, cả hai đều nối nghiệp cha và
tạo nên tên tuổi cho riêng mình. Trong phim này, Christopher thủ vai một
cậu bé chứng kiến cha mình bị sát hại, lớn lên cậu thanh niên nhất
quyết đi tìm những kẻ sát nhân để trả thù cho cha mình. Hollywood rất
ít khi hợp tác với các nước khác để làm phim, trái lại những phim
của Âu Châu phần nhiều đều có sự hợp tác giữa hai, ba, bốn, năm nước
để làm phim. Phim này do Pháp, Ý và Tây Ban Nha hợp tác sản xuất.

Vera
Cruz (1954) phim cao bồi, Gary Cooper, Burt Lancaster, Cesar Romero, Sara
Montiel, Ernest Borgnine, Charles Bronson. Sau khi cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ
chấm dứt, hai tay súng giang hồ gặp và kết bạn với nhau rồi cùng
vượt biên giới xuống Mexico
kiếm ăn. Họ được nhà vua ở đó giao cho sứ mạng hộ tống một đoàn xe
đi qua vùng cách mạng. Khi biết được trong một xe có chứa đầy vàng,
lòng tham con người nổi dậy và mọi chuyện gay cấn ly kỳ bắt đầu
diễn ra.

You're
Never Too Young (1955) (Un Pitre Au Pensionnat / Thằng Khờ Đại Náo Ký Túc
Xá) phim khôi hài, Dean Martin, Jerry Lewis, Diana Lynn, Nina Foch, Raymond
Burr. Cái tựa tiếng Việt dịch theo tựa tiếng Pháp chỉ đúng nghĩa một
phần, đáng lẻ là trường nội trú thay vì ký túc xá mới đúng. Tôi nhớ đây
là phim đầu tiên khán giả xi-nê Sài Gòn được làm quen với danh hề Jerry
Lewis. Vai của anh quá nổi bật khiến cho vai của Dean Martin hơi lu mờ,
chưa kể Dean Martin lại hay hát hò nên chắc chắn khán giả Sài Gòn không
quen lắm với giọng ca và những bài hát không nổi tiếng đôi khi còn làm
nhịp điệu vui nhộn của phim khựng lại. Jerry Lewis đóng vai một anh chàng
thợ phụ hớt tóc chẳng may vô tình vướng vào một vụ trộm kim cương mặc
dù anh hoàn toàn vô tội. Bị tên cướp truy tìm ráo riết vì hắn đã kín đáo
nhét viên kim cương vào áo quần của anh, anh bèn phải bỏ trốn bằng xe
lửa. Không đủ tiền mua vẻ, anh bèn giả làm đứa bé 12 tuổi để được mua
giá phân nửa tạo nên những trận cười nghiêng ngữa. Chưa hết, anh còn
được một thày giáo dạy nhạc và một và một cô giáo giúp anh lẫn trốn vào
một trường nội trú nữ càng làm cho khán giả cười muốn vỡ bụng luôn.
Tuy được khán giả toàn thế giới ưa thích nhưng phim này không phải nguyên
thủy mà được phóng tác từ phim "A Major and a Minor" (1944).
"Thằng Khờ Đại Náo Ký Túc Xá" là phim vui nhộn nhất của cặp
bài trùng Dean Martin - Jerry Lewis. Một thời gian sau, cặp này tan rả và
Jerry Lewis tiếp tục đóng phim một mình. Khi còn Dean Martin thì tôi thấy
vai của Dean hơi vướng víu nhưng khi Jerry Lewis đóng một mình, tôi lại
thấy như thiếu một cái gì làm cho phim không còn vui nhộn trọn vẹn. Riêng
về Dean Martin, sau khi tách khỏi đóng đôi với Jerry Lewis và gia nhập nhóm
Frank Sinatra, sự nghiệp điện ảnh và ca hát của anh đã tiến bộ vượt
bực.
(còn
tiếp)
E-MAIL: TRANDANGCHI@GMAIL.COM
BLOG IN ENGLISH: CHITRANPHOTOGRAPHY.BLOGSPOT.COM