Thứ Năm, 6 tháng 1, 2022

Tản mạn về thức uống

 

Thức uống ở đây không nói về hai loại nước uống phổ biến là trà và cà phê. Có thể viết, và đã có, cả cuốn sách về từng loại thức uống đó.

Khoảng năm 1934, ở Sài Gòn có bán một loại nước uống giải khát có tên Tây là Antésite của nhà bào chế Normale, được quảng cáo nhiều trên các tờ nhật báo có tiếng ở Sài Gòn lúc đó như nhật báo Sài Gòn, nhật báo Công Luận.

Đây là thức uống công nghiệp, được giới thiệu là tốt cho sức khỏe, không có cồn, thơm ngon, làm toàn bằng tinh chất của các vị cam thảo, thạch long đởm và các cây hương liệu. Người dùng mua về nhỏ vài giọt hoặc múc một muỗng cà phê tinh chất này cho vào ly chứa một lít nước là có một lọai nước được đánh giá là rất bổ, giúp cho sự tiêu hóa, trị các chứng sốt rét, thích hợp cho các xứ thuộc địa và đã được dùng ở Algérie, Tunisie, Maroc...




Quán giải khát ở Sài Gòn thập niên 1960. Ảnh: TL

Loại nước cô đặc này đựng trong hộp nhỏ, pha được từ 30 đến 80 lít nước, bán ở các tiệm tạp hóa, nhà bào chế, tiệm bán thực phẩm. Có thể mua qua bưu điện nếu gửi 5 quan đến nhà bào chế tận bên Pháp sẽ nhận được nước tinh chất pha được 30 đến 40 lít nước giải khát mà không tốn cước.

Trước đó, trên Hà Thành ngọ báo ở xứ Bắc từ năm 1932 đã có quảng cáo loại nước này, giới thiệu chi tiết hơn là nước pha ra có màu vàng trong như rượu bia, không dùng màu hóa học, có bốn mùi chanh, bạc hà, hồi và cam. Rải rác trên các báo Thanh Nghệ Tĩnh, Tân Văn năm 1934 có thấy giới thiệu bán ở Vinh và Nha Trang.

Người Việt thời điểm thập niên 1930 đã quen thuộc với các thứ thức uống công nghiệp. Bia Larue vào Đông Dương khoảng năm 1927 với nhãn hiệu hình con cọp in trên nhãn chai do hãng B.G.I sản xuất và nhanh chóng chinh phục khẩu vị người dùng. Hãng bia và các đại lý đã bỏ không ít tiền ra quảng cáo bia trên báo, tuy nhiên khi đọc ô quảng cáo về loại bia này trên báo Công Luận, số 7278, ra ngày 17 tháng Mười Một 1936, mới thấy có điều đáng ngạc nhiên. Trên ô quảng cáo “Lời người không sai”, sau khi dẫn hai câu thơ chữ Hán với nghĩa là “uống rượu, dầu cho có say đi nữa cũng đỡ buồn”, câu dưới: “có rượu nên say, say đâu có chết”, lời giới thiệu tiếp tục: “Song rượu đời nay chẳng những là không say mà thôi, mà lại còn bổ dưỡng, hay ho nhiều chỗ, chỗ khoái là khác. Rượu gì mà khoái dữ vậy. Rượu La-ve (la bière) Larue, chứ rượu gì?”

Quảng cáo này tới đây vẫn tạm được, nhưng sau đó là bắt đầu quá đà: “Đàn bà thiếu sữa cho con bú thì phải làm sao? Uống La-ve Larue thì sữa ra dư dật. Ông già yếu sức hay khát nước, thì phải làm sao? Uống rượu La-ve Larue thì giải khát ngay, đã giải khát lại còn được tinh thần tráng kiện”.

Và: “Con nít có nên uống La-ve Larue không? Nên lắm chớ. vì cho con nít uống cho có chừng thì càng ngày càng mập mạnh. Đã vậy nó lại còn tránh khỏi sự uống nước bậy bạ mà sanh bệnh hoạn là khác”. Cuối cùng kết luận: “Nói tóm lại, thứ rượu La-ve Larue là một thứ giải lao, giải khát chẳng có thứ chi bì kịp nó”.





Quảng cáo nước cam Bireley's, loại nước giải khát rất phổ biến

 trước năm 1975 ở miền Nam (Tư liệu của Phạm Công Luận)


Anh lớn nhất của tôi, sinh ra đầu thập niên 1940 kể là con nít thời đó không thấy đứa nào được người lớn cho uống bia Larue theo lời quảng cáo hồi đó. Thức uống mà đám con nít ưa thích vẫn là nước đá bào và xi rô đá nhận. Nước đá bào bỏ vô ly, chế vào nước xi rô, nước lạnh rồi dùng muỗng quậy là uống được, mát và thơm ngọt mùi xi rô.

Còn xi rô đá nhận như một loại kem đá, cũng dùng nước đá bào vô ly cho vun cao, rồi dùng tay đè xuống nén chặt lại rồi chế xi rô lên trên. Xong lấy cục xi rô ra cầm tay, vừa đi vừa mút chất xi rô ngọt lịm, lạnh ngắt. Đứa con nít nào chịu lạnh dở thì cứ để trong ly, mút dần cho đến khi hết xi rô thì trút ra hút đến khi cục đá nhận trở lại trắng xát.

Đến lúc đó, thức giải khát sản xuất trong nhà máy đã thịnh hành lắm rồi. Nhà thơ Đông Hồ trong một bài viết(*) kể rằng trong Sở Thú (tức là Thảo Cầm Viên) có một ụ đất nhỏ. Trên đó có một ngôi tiểu đình, không biết ban đầu người Pháp xây nó để làm gì, có lẽ để hòa nhạc cho công chúng nghe như một thứ “bồn kèn”. Sau có một người Hoa thầu để làm quán giải khát. Lính Tây vào chơi vườn thường tụ lại đó uống rượu, uống nước đá, nước dừa.

Ở đó có một món nước giải khát đặc biệt là rượu Pernod pha nước dừa xiêm uống rất thơm ngon. Anh chủ quán người Tàu bèn chế ra một bài quảng cáo có vần Tây. Tay anh cầm khối nước đá, vừa bào xẹt xẹt vào ly nước dừa có pha rượu Pernod màu hoa lý vừa hát rao hàng: “này Zô-ô, này Cô-cô, này Pẹc-nô…”. Sẵn vần ô, anh hát kéo dài ra: “Này si-rô, này li-mô…” để quảng cáo luôn các loại nước ngọt và rượu màu trong quán của anh. Những người lính Tây hiểu ý là vào Sở thú (Zoo), thì được uống Pernod pha nước dừa (coco), lại có nước chanh (limonade), nước đường (sirop)…

Nhà văn Nguyễn Vỹ nhắc lại kỷ niệm nhỏ trong bộ tiểu thuyết “Tuấn, chàng trai nước Việt”. Đó là lần nhân vật chính trong sách là Tuấn, hiện thân của nhà văn, vào Sài Gòn năm 1936, được mời ăn bánh đập và uống nước xá xị, thứ nước có cái tên kỳ dị mà anh chưa bao giờ thấy ở Hà Nội thời đó. Sau này, anh tìm hiểu mới biết danh từ “Xá xị” rất “Ba Tàu” đó lại chính là danh từ Pháp “Salsepareille” do người Hoa Chợ Lớn phiên âm ra.

Chín năm sau đó, 1945, khi vào lại Sài Gòn anh tìm lại món bánh đập yêu thích nhưng không có, đành tìm lại dư hương cũ, bằng cách vào Chợ Lớn uống xá xị. Thứ nước uống ngoại lai này đi vào văn chương bằng cách giản dị và nhiều cảm xúc vậy đó.

Cuối thập niên 1940, thức uống cho người bình dân, nhất là đám học trò không có nhiều chọn lựa, vẫn là đá nhận, đá bào và một thứ chè phổ biến thường được bán chung với đá nhận đá bào là chè đậu đỏ bánh lọt ăn với nước dừa đường cát. Xá xị không mấy khi được uống, vì mắc hơn các thứ nước khác, trừ khi ai đó bị khó tiêu sẽ được khuyên ra đề-pô mua xá xị uống cho “dễ tiêu” vì sẽ ợ hơi ra. Món cà rem, làm đông đá các loại nước xi-rô hay chè đậu xanh, xắt thành từng miếng vuông hay chữ nhật, hơi lạnh tỏa ra cho đến khi cục cà rem tan dần, phải ăn cho kịp khi nó tan.

Thời gian này đã có món gọi là “kem bột” nấu bằng sữa cho đông dần, múc ra bằng muỗng bỏ vào cái bánh ốc quế. Lọai kem này, bán dạo cho học trò, từ một ông đẩy xe có đặt một cái thùng kem tròn kín mít, thường múc kem bỏ vào một loại bánh không “sang” bằng bánh ốc quế làm bằng bột mì mà loại bánh bột gì đó xốp hơn, nhuộm màu xanh đỏ, trắng và cũng có chóp nhọn phía dưới để cầm.

“Kem bột” thời đó, mùi vị đơn điệu, không ngon bằng kem ly bây giờ với đa dạng mùi vị. Nó đã có ở Sài Gòn từ lúc đó và có thể sớm hơn do người Pháp đưa vào xứ thuộc địa, không hẳn do người Bắc mang vào từ 1954 như có người khẳng định. Lúc đó, không hiểu sao nước mía không thấy phổ biến như từ thập niên 1960.

Thế hệ đầu 6X chúng tôi lớn lên thích uống chai nước ngọt hiệu Con Cọp của hãng B.G.I của Pháp, nhãn hiệu bóng đen đầu con cọp trên nhãn hiệu và giữa chai thủy tinh có những khấc tròn đúc nổi. Đám con nít xem báo thấy hình chai nước ngọt mà thèm, nhớ câu thơ quảng cáo: “Nước ngọt Con Cọp ở đâu/ Đấy là khỏe mạnh sống lâu yêu đời”, hoặc: “Nước ngọt Con Cọp, hoan hô!/ Với chai “hỏa tiễn” điểm tô cuộc đời/ Thêm vui,thêm đẹp, thêm tươi!”(Chai hỏa tiễn là loại chai có hình thuôn nhỏ ở đầu như hỏa tiễn, vẽ hình hai đứa bé cỡi lên đang phóng đi).

Thường má cho tiền mua hai chai xá xị Con Cọp, về khui ra trút nước vào cái ca lớn bằng inox tốt nhập của Mỹ bỏ sẵn đá lạnh, rót dần ra ly uống, ợ một cái cho đã và thế nào cũng bị la vì tội “bất lịch sự”. Có khi là nước cam Bireley’s, nước cam và xá xị hiệu con nai của hãng Phương Toàn trong Chợ Lớn. Uống xong, đám con nít lượm lại mấy cái nắp khoén sắt có in nhãn hiệu. Sau khi gỡ miếng bấc màu nâu xốp lót phía trong nắp khoén, cùng nhau lấy búa đập cho dẹp ra để làm “tiền” chơi các trò có ăn thua. Còn chai thủy tinh thì cất vô trong góc, khi nào ba má sai thì nhanh chân đi đổi, chỉ hai chai xá xị chứ không được nhiều.

Các thức uống khác đã trở nên phong phú từ thập niên 1960, từ sương sâm, sương sáo, nước mía, các loại chè,… Khi người Mỹ vào miền Nam thì có thêm nước Coca đóng chai thủy tinh cao hơn chai xá xị, hơi ga rất nồng uống vào xông “lên tới óc”. Ngoài ra còn có bột pha nước nho và nước cam hiệu Tang đựng trong hũ thủy tinh, pha nước uống khá ngon.



Bàn bán nước giải khát của người Hoa Chợ Lớn, có thể ở thập niên 1920. 

Ảnh: Bưu thiếp Indochine


Sau 1975, các loại nước đóng chai ít dần và biến mất. Người lớn trẻ em quay lại uống nước hột é, sương sâm sương sáo, chè nấu với đường tán… đôi khi thèm uống nước xá xị có ga không biết đào đâu ra. Má tôi buổi chiều nghỉ bán ngoài chợ, mua mít hay nhãn nấu với nước đường cho con uống và bán cho con nít trong xóm kiếm tiền chợ. Bà cũng làm sương sa hột lựu, bằng bột năng nhào, pha màu lá cẩm, lá dứa rồi hấp chín, đặt trên mảnh vải mùng cho rút nước rồi xắt cỡ thành viên nhỏ. Khi đem luộc, những viên bột trở nên trong veo, có nhân đỏ, xanh bên trong như hạt lựu.

Nước đường nấu lên, pha thêm nước dầu chuối, nước cốt dừa, bỏ hột lựu vào ăn cùng nước đá rất ngon. Ăn theo thuở ở theo thời, đó là thức uống ngon nhất mà chúng tôi nhớ mãi đến giờ, vừa nhấm nháp thứ nước mát ngọt đó vừa chọc ghẹo nhau bằng câu vè: “Sáng sớm sương xuống, Xã Xệ xuống xuồng sang sông. Xã Xệ xực sương sâm, sương sa, sương sáo. Xực xong, Xã Xệ xuống sông… sèèè !”.

Phạm Công Luận

(Trích “Sài Gòn ngoảnh lại trăm năm” do Công ty Phan Book và NXB Đà Nẵng xuất bản năm 2021)

(*) Bài “Nghĩ về những tiếng danh xưng nhà nước” tạp chí Bách Khoa 145 (15.1.1963)

  

Nguồn: https://nguoidothi.net.vn/tan-man-ve-thuc-uong-32693.html


Thứ Ba, 21 tháng 12, 2021

 

Sài Gòn, vài cơn khủng hoảng

 

Người Sài Gòn – Gia Định từng đối diện nhiều đợt biến động, những lần khủng hoảng trong trăm năm qua. Các bi kịch xảy ra không sao kể xiết. Mỗi nhà mỗi cảnh, không ai có thể thông cảm hết cho ai. Dù gặp chuyện gì, ai cũng nuôi động lực là hy vọng và lạc quan.



                               Khu Mã Lạng năm 1968. Ảnh: Eddi Adams


Chỉ tính từ đầu thế kỷ 20, cuộc sống đời thường đã có những thời khắc vô cùng khó khăn, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống hầu hết người dân Sài Gòn – Gia Định. Đó là thời gian khủng hoàng kinh tế thế giới bắt đầu từ 1929 đến giữa thập niên 1930.

Ký giả Tế Xuyên kể tỉ mỉ câu chuyện này trên báo Đuốc Nhà Nam xuân Tân Hợi 1971. Năm 1932, ông từng thấy cả dẫy phố đường de la Somme (Hàm Nghi) – Catinat (Đồng Khởi) - Sabourain (Lưu Văn Lang) hầu hết bỏ trống khoá cửa, chỉ vài căn có người mướn. Chợ Bến Thành buôn bán ế ẩm, cho dù một con vịt quay treo tòn ten ở quán bán có 6 xu một con nhỏ, 8 xu con lớn. Gạo thì 4 cắc 4 giạ mà lại là thứ gạo nấu cơm mềm dẻo, thơm phức…

Những kẻ thất nghiệp dám mướn phố lầu mà ở, những căn phố ở trung tâm, gần chợ Sài Gòn. Họ có cách để ở khỏi tốn tiền: chỉ xoay đủ tiền trả tiền phố tháng đầu, tới từ tháng sau không trả tiếp nữa, ở lì luôn cả năm. Khi người thâu tiền phố đến đưa biên lai thâu tiền thì chỉ cười trừ. Tiền đâu mà trả, người thâu tiền cũng thông cảm vì hoàn cảnh của thầy ta chắc cũng chẳng hơn gì người thuê nhà.

Có khi ngượng quá thì lánh mặt, cho vợ con “đại diện” mà trả lời rằng: “Tháng này túng quá, thôi để tháng sau trả luôn thể”. Tháng sau? Rồi tháng sau nữa… kéo dài cả 10 tháng, 12 tháng như vậy. Người thu tiền thét rồi thối chí sau hai ba lần sẽ không đến nữa, báo cáo cho chủ đối phó. Đối phó cách gì? Nhiều lắm là đưa ra toà xin trục xuất thôi vì người mướn phố không có một món đồ gì đáng giá để tịch thu. Kẻ nghèo chỉ có vỏn vẹn một cái ghế bố để ngủ và một cái rương hay cái vali cũ kỹ đựng ba bộ quần áo rẻ tiền.

Cái lối mướn phố “luân chuyển” đã thành kế sách của dân nghèo: ở căn này một thời gian rồi lại ở đến căn kia, trả tiền phố có một tháng đầu ở đến một năm hay 8 tháng, ít lắm cũng là 6 tháng.

Đi ngoài đường thấy vắng vẻ buồn hiu. Những căn phố đóng cửa im ỉm. Những căn phố chết. Sài Gòn lúc ấy như là thành phố chết hay đang hấp hối. Nạn thất nghiệp tràn lan, kiếm được một việc làm là cả một cái may mắn như trúng “số đuôi”. Công chức, tư chức có “sở mần” rồi thì cố mà giữ lấy, cố chiều chuộng ông “sếp” để khỏi bể nồi gạo.

Lao động lại càng cực khổ hơn vì phải đổ mồ hôi đổi lấy chén cơm manh áo và ít người có lấy một cái gì gọi là “nhà” để ở. Phần nhiều họ đóng đô ở ngay hàng ba với những căn phố trống. Với tất cả nồi niêu xoong chảo, cả thê tử đùm đề, họ sống cố thủ tại đó, vì có ai mướn căn phố ấy đâu. Đêm đến họ bẻ khoá cửa, di cư bớt bầy con vào ngủ trong nhà, sáng đến lại móc khoá và cửa để khoá hờ, khoá tượng trưng cho người quản lý dãy phố khỏi la rầy.

Trước cơn bịnh kinh tế trầm trọng đó, một nhà thầu khoán ở miền Trung là Trần Quang An, từng học trường Công Chánh Hà Nội tự xưng là “Bác sĩ kinh tế” lên sân khấu một nhà hát ở Phan Thiết, diễn thuyết về nạn kinh tế khủng hoảng và tuyên bố đem tài “kinh bang tế thế” giải quyết nạn đồ thán cho đồng bào.

Ông còn chạy vào Sài Gòn để kê toa, toan chữa bệnh kinh tế khủng hoảng cho toàn dân. Toa thuốc của ông giản dị lắm: tìm biết đúng nhu cầu hàng tháng của mỗi gia đình (bao nhiêu gạo, bao nhiêu than, bao nhiêu mắm muối, tương cà) phân phối cho từng nhà. Tóm lại là mua tận gốc bán tận ngọn, mua gộp lại để có thể trả giá rẻ. Một hình thức “hợp tác xã” nhưng bác sĩ kinh tế gọi là “Entrepots-Warrant”.

Ông dùng Sài Gòn làm thí điểm. Ông in ra cả mấy vạn tập “câu hỏi” về nhu cầu bếp núc của mỗi gia đình, phát cho từng nhà xin trả lời để ông ước lượng số hàng phải mua dự trữ trong những “Entrepots Warrant” của ông.

Ông thuê một dãy 24 căn phố trệt ở đường Jean Eudel (nay là đường Nguyễn Tất Thành) Khánh Hội, để làm kho chứa hàng. Nhưng ông thất bại lớn. Vì người Vỉệt Nam thế hệ trước quen sống với nếp sống cổ truyền “tén vén tương cà” đâu có hiểu lợi ích của một biện pháp kinh tế xa lạ mà họ còn nghi ngờ là một thủ đoạn gì đây?






Chân dung một người đàn ông Sài gòn năm 1955.

Ảnh: Raymond Cauchetier


Toa thuốc kinh tế của “Bác sĩ” Trần Quang An chưa kịp cứu dân độ thế đã bị xếp xó, 24 căn phố của ông thuê bị bỏ trống cả năm rồi trả lại cho chủ phố.

Các nhà buôn lỗ lã, bị đóng cửa vì vỡ nợ, vì khánh tận. Nhà băng Đông Dương, nền tảng của đại tư bản Pháp, quơ lưỡi hái mà giết chết thương gia nầy đến điền chủ kia. Chờ đến lúc các tiểu thương trung thương Pháp cũng khó sống, muốn nghẹt thở, chết ngộp. Đám thương gia Pháp cầm đầu, các cuộc biểu tình rầm rộ diễn ra ở Sài Gòn, trong các phòng họp nhóm. Họ la thét, thảo kiến nghị, đòi phá giá đồng bạc. Nhưng chỉ là tiếng kêu giữa bãi sa mạc, chẳng đi đến đâu vì phái đại lý tài Pháp vững như bàn thạch.

Lúc đó, nếu ai có người thân ở nông thôn miền Nam để có thể về tạm trú trốn khủng hoảng kinh tế ở Sài Gòn thì thật là may mắn. Lúa bán không được, công việc làm ăn buôn bán ngưng trệ, song nông gia ở dưới đó vẫn sống đầy đủ. Gạo có sẵn, không bán được thì để ăn, dân quê không phải lo nạn đói. Nhà nào ở quê cũng chất lúa đầy lẫm, đầy kho, gà vịt nuôi cả bầy, không phải để bán mà để ăn hàng ngày. Ngoài ra nhà nào cũng có một hai lu mắm, cá đồng tràn trề không thiếu.

*

Đến năm 1945, Nam bộ kháng chiến, Sài Gòn - Gia Định tràn đầy binh lửa. Chú Nguyễn Cương Phú, một facebooker lớn tuổi đang sống ở Úc kể năm đó nhà chú đang sống yên bình với cửa tiệm giày dép guốc ở chợ Bến Thành. Một trái bom thả xuống chợ Bến Thành, làm sụp một góc chợ. Gia đình chú tản cư về Gò Công, đến khi quay trở lại thì tiệm tan hoang.

Để lo một gia đình có của ăn của để, nhà từng có 8 người giúp việc, mẹ của chú trở thành bà bán cơm bình dân cho phu thợ ăn trong chợ Phú Nhuận, và chú phải đi giúp việc một thầy thuốc Đông y để được nuôi cơm.

Lúc đó, nhà ông ngoại tôi bên Khánh Hội, trên đường Quai De La Marne (Bến Vân Đồn, quận 4) cũng đang lao đao vì ông ngoại, đang làm việc công sở Tây thì bị bệnh mắt, ánh nhìn ngày càng mờ dần. Bà ngoại tôi phải bán cái tiệm tạp hóa và một tiệm rượu có môn bài đang kinh doanh để lấy tiền chữa cho ông nhưng đành chịu thua vì bệnh không hết, khi các bác sĩ Pháp tập trung cho cuộc chiến. Sau cả nhà phải tản cư về Củ Chi và ông ngoại cũng mất cuối năm 1945.

Trước đó, người anh lớn nhất của ông ngoại tôi khoảng năm 1944 bị chết trong một trận bom gần cầu Ông Lãnh. Rồi đến lượt cậu ruột tôi, Nguyễn Công Linh, đã lấy xong Đip-lôm, bị bệnh ban phải vô nằm nhà thương Dejean de la Bâtie (trung tâm cấp cứu Sài Gòn). Chỉ vài ngày sau, một trái lựu đạn nổ phía ngoài vách tường sát bên giường gây sức ép khiến cậu mất khi chỉ 22 tuổi. Ngôi nhà ông cố tôi ở Khánh Hội ly tán từ đó, may mà còn giữ được một phần căn nhà cho đến ngày nay.

Ông anh lớn nhất của tôi còn ghi lại một câu chuyện năm 1953, lần đầu anh nếm mùi giới nghiêm khi đã về Phú Nhuận. Lúc đó, người chị thứ tư mới sanh. Chị có tật khóc cả đêm nên cả nhà vất vả vô cùng trong khi ba tôi đi vắng. Năm đó chiến sự vẫn còn tiếp diễn, lính Lê Dương được tăng cường đầy dẫy khắp Sài Gòn – Gia Định.

Tối cứ đến tám giờ là giới nghiêm, ai ra đường không có lý do báo trước hoặc thấy bóng là bắn. Ai có việc bệnh hoạn sinh nở cần di chuyển phải cầm đèn bão đi theo, xét đúng mới cho đi. Chị Tư lại hay nóng sốt ban đêm, má tôi thường dùng khăn thấm giấm đánh lưng cho hạ nhiệt. Một đêm đã khuya, trán chị nóng quá, má rầu rĩ nói phải chi có được lá trầu về đánh lưng cho em hạ sốt.

Nhà cách vườn trầu chỉ khoảng năm chục mét nhưng đi qua khỏang sân trống không phải là chuyện dễ dàng. Cái lô cốt có lính Lê Dương gác sừng sững trước mặt hễ thấy bóng người là bắn ngay lập tức. Thương em và thương cả má, anh tôi quyết định đi hái lá trầu.

Chui ra khỏi nhà, anh bỏ lơ tiếng gọi giật của má, sát người xuống bò chầm chậm trong đêm tối. Anh kể chỉ năm chục mét đất trong vườn mà như dài dằng dặc tưởng chừng sẽ có một phát súng và mình ngã lăn ra, bỏ má và đứa em thơ. Ác liệt là đêm đó lại có trăng sáng. Anh vừa bò vừa van vái vong hồn ông bà phù hộ cho đến cây trầu, hái vội nắm lá trầu rồi bò về. Đến tới cửa nhà, mồ hôi đã ướt đẫm.




Một khu nhà bị cháy ở Sài gòn năm 1955.

Ảnh: Raymond Cauchetier


Tôi lớn lên, sống ở Phú Nhuận khá êm đềm trừ vài lần đáng nhớ. Không khí chiến tranh trong mắt tôi chỉ là những hàng chữ chi chít trên báo Đại Dân TộcTrắng Đen, Điện Tín mà ba tôi mua đọc hằng ngày. Thỉnh thoảng có tin báo tử của những người đi lính trong xóm. Máy bay hàng ngày bay qua lại trên đầu, nhiều nhất là trực thăng.

Nhiều lần con nít trong xóm phát hiện có “máy bay thả giấy” (truyền đơn) phía xa và chạy đi lượm. Giao thừa tết Mậu Thân, tiếng pháo bỗng nhiên rộn rã hơn rất nhiều. Tôi được hứa cho đi chơi vào ngày mùng Một. Sáng hôm sau, ba bảo cả thành phố giới nghiêm rồi, trên đài đã có lệnh chính thức nên không đi được. Đêm đó, cả nhà chui xuống nằm dưới bộ ván bằng gỗ sây rất cứng, có lót bao cát phía trên mà không biết ba tôi đã chuẩn bị từ bao giờ để tránh đạn lạc.

Từ đó, khu xóm tôi thỉnh thoảng có những ngưới lính đội nón sắt hành quân đi ngang qua, đám con nít thấy thành nón của họ treo lủng lẳng vài gói nhỏ không biết là gì. Rồi tình hình dần êm ắng. Ông anh tôi bảo tết Mậu Thân coi vậy không căng thẳng bằng hồi đảo chánh ông Diệm hồi anh còn nhỏ vì lúc ấy nhìn lên trời thấy máy bay bắn nhau với khói đạn từng cụm và đạn rớt trên mái tôn rổn rảng.

Đến tháng 4 năm 1975. Trước mái hiên, cả nhà tôi chứng kiến trên bầu trời phía sân bay Tân Sơn Nhứt có hai chiếc máy bay quần thảo nhau. Đêm 28 hay 29 tháng 4, tiếng súng ầm ì và tiếng đạn rớt như ai gõ vào chảo, cứ lanh canh, ục oạc gần xa. Sau đó là ngày 30 tháng 4 và sau đó nữa là hơn chục năm sống thời bao cấp.

Cùng với bao người, gia đình tôi trải qua những tháng ngày khó khăn. Nhiều gia đình khổ sở vì có người thân ra đi vì bệnh tật không có thuốc đặc trị, vượt biên mất tích, đi kinh tế mới,… Những năm 1980 thiếu thốn, lụt bão, lên đường ra chiến trường, đổi tiền… Những năm đó, gánh nặng đè nặng lên vai người lớn, riêng đám học trò nhỏ chúng tôi thì cho gì ăn nấy, mặc nấy và vẫn vô tư lớn lên.

Người Sài Gòn – Gia Định từng đối diện nhiều đợt biến động, những lần khủng hoảng trong trăm năm qua. Các bi kịch xảy ra không sao kể xiết. Mỗi nhà mỗi cảnh, không ai có thể thông cảm hết cho ai. Dù gặp chuyện gì, ai cũng nuôi động lực là hy vọng và lạc quan. Hy vọng sẽ có lúc thoát ra được những khó khăn, không lẽ thế này mãi! Có mất mát cũng phải gượng dậy để sống tiếp và giúp nhau vượt qua. Đó là nếp nghĩ của người thành phố này, dù có gốc gác lâu đời ở đây hay mới nhập cư sau này.

                                                             Phạm Công Luận


Nguồn: https://nguoidothi.net.vn/sai-gon-vai-con-khung-hoang-31859.html


 


Thứ Tư, 15 tháng 12, 2021

 

SÀI GÒN CẢNH CŨ ĐƯỜNG XƯA
CHỢ ĐŨI (Tiếp theo)

** Mỹ Phước Nguyễn Thanh France

 

 

Để tiếp tục tìm lại một ít quá khứ vùng Chợ Đũi, chúng ta cùng bước qua một trong những nơi trọng yếu của Sài Gòn thuở xa xưa, từ nơi đây đường cái quan chia ra nhiều ngả: một đường đi ra bắc về hướng Thăng Long, một đường về phía tây đi Cao Miên, một đường về phía nam đi xuống vùng Tiền và Hậu Giang. Ngày nay nơi ấy là ngã sáu Phù Đổng.

Theo Đại Nam nhất thống chí, vào năm 1679, chúa Nguyễn Phước Tần cho lập đồn dinh ở Tân Mỹ, đứng đầu cơ quan công quyền này là vị quan tổng tham mưu mang chức danh là điều khiển. Đến nay vị trí của đồn dinh Tân Mỹ chưa ai xác định được, nhưng ta có thể phỏng đoán vị trí nha Điều khiển vì chợ Điều Khiển được đề cập trong Gia Định thành thông chí và trong tài liệu của Trương Vĩnh Ký đã dẫn trên đây. Nha Điều khiển ở gần đường cái quan, nay là đường Nguyễn Trãi. Trên bản đồ Trần Văn Học (1815) ta thấy quan lộ này bắt đầu từ cửa Tốn Thuận của thành Bát Quái theo hướng tây nam qua chùa Kim Chương, đi về vùng châu thổ sông Cửu Long. Tại vị trí tương đương với ngã sáu Phù Đổng ngày nay ta thấy một ngã tư, có đường rẽ theo hướng tây bắc đi sang Cao Miên (các sứ thần nhà Nguyễn đi Nam Vang bằng đường này nên nó còn được gọi là đường Sứ), phía đối diện có đường rẽ về phía Cầu Quan và sông Bình Dương (Rạch Bến Nghé). Ngã tư này tồn tại cho đến ngày Pháp xâm chiếm Sài Gòn. Vào những năm đầu thời Pháp thuộc giao lộ này chỉ còn có 3 ngả chính : đường trên (Võ Tánh / Nguyễn Trãi), đường Thuận Kiều (Lê Văn Duyệt / Cách Mạng Tháng 8), đường La Grandière (Gia Long / Lý Tự Trọng). Ngả đi về rạch Bến Nghé ít được sử dụng vì đầm lầy Boresse chưa được mở mang. 

Vào đầu thập niên 1880, rạch Cầu Muối bị lấp dần, đại lộ Abattoir (Nguyễn Thái Học) nối liền khu Cầu Ông Lãnh tới ngã tư nói trên. Cũng vào khoảng thời gian này đường tramway Sài Gòn - Chợ Lớn (1881) và đường xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho (1883) được hoàn thành, cả hai đều đi qua ngã tư, gần đấy có trạm Chợ Đũi cho tramway ngừng lại đưa rước hành khách. Vào khoảng năm 1912 ga Sài Gòn đổi dời, tuyến đường sắt bị tháo dỡ, một lần nữa ngã tư thay hình đổi dạng thành ngã sáu, vì khoảng trống do đường xe lửa để lại được cải biến thành đường phố, nay là đường Lê Thị Riêng (Ngô Tùng Châu) và Phạm Hồng Thái. Ngã sáu này không có tên chính thức, nhưng người dân thời ấy quen gọi là ''ngã sáu Sài Gòn'' hay ''ngã sáu Verdun'', gọi theo tên của một trong những đường giao nhau tại đây.

Từ ngã sáu ta đi vào đường Verdun, con đường mang tên trận chiến diễn ra vào năm 1916 giữa hai quân đội Pháp và Đức. Trước tháng 8 năm 1916, đường này có tên là Thuận Kiều (route de Tong-Kéou hoặc Thuân-Kiêu), tên của một đồn binh thuộc triều đình, nằm cách Sài Gòn 12 cây số về phía bắc, thất thủ lúc kháng Pháp vào năm 1861. Năm 1947, đường Verdun được chia thành nhiều đoạn đặt tên khác nhau (Nguyễn Văn Thinh, Thái Lập Thành, Chanson). Từ 1955 đến 1975, tất cả các đoạn nhập lại mang tên đường Lê Văn Duyệt. 

Trong chu vi vùng Chợ Đũi, ta chỉ để ý đến đoạn từ ngã sáu đến đường Chasseloup Laubat (Hồng Thập Tự / Nguyễn Thị Minh Khai). Dọc theo đoạn đường này lần lượt ta gặp các ngã ba: Taberd (Nguyễn Du), Duranton (Bùi Thị

Xuân) và Léon Combes (Sương Nguyệt Anh).

Từ thập niên 1920 trở đi việc buôn bán mới bắt đầu nhộn nhịp: cửa hàng vải, đồ gỗ, tạp hóa v. v. xen lẫn nhà ở của công tư chức và vài ba trường sơ đẳng tiểu học của tư nhân, thường thường là ngôi trường nhỏ chỉ có một lớp học gồm vài mươi học sinh, do một thầy giáo kiêm hiệu trưởng phụ trách (Các trường Huỳnh Công Phước, Nguyễn Hoàng, Thái Bình, v.v.). Đặc biệt là nhiều người Ấn cũng đến đây cư trú hoặc buôn bán.

Khoảng năm 1930, hẻm số 6 ăn thông qua đường La Grandière hãy còn là khu xóm lao động tồi tàn, nhiều căn nhà chứa tới bốn, năm gia đình thợ thuyền (một người đứng tên thuê nhà rồi ngăn vách chia phòng cho các gia đình khác đến cư trú, họ hùn nhau trả tiền thuê nhà). Ban ngày trong đường hẻm chất đầy thùng, gánh hàng, ban đêm ghế bố bày trước nhà làm chỗ ngủ. Chuyện thật khó tin là hẻm này tuy ở nơi thị tứ nhưng hai đầu hẻm thường làm nơi đổ rác bừa bãi, trong hẻm lại nồng nặc mùi khai nước tiểu vì thiếu nhà vệ sinh công cộng trong khu phố chung quanh. Không riêng cho hẻm này, thời ấy còn có biết bao xóm nghèo như thế trong thành phố Sài Gòn.

Bên dãy phố phía tay trái gần đến đầu đường Duranton (số nhà 85) là tư thất của nhà cự phú Benoit Lê Văn Châu, vị mạnh thường quân đã hiến đất cho ban kịch Đức Hoàng Hội xây rạp hát trên đường Colonel Grimaud.  Qua khỏi ngã ba, nơi góc đường (số 89) là tư gia, vừa là  phòng mạch, vừa là ''dinh thủ tướng'' của bác sĩ Nguyễn Văn Thinh. Ông cư ngụ tại đây hơn 20 năm đến ngày ông quyên sinh (10-111946) lúc đang giữ chức thủ tướng Cộng Hòa Tự Trị Nam Kỳ. Tên ông được đặt cho đoạn đường này từ năm 1947 đến 1955, sau đó đặt tên cho con đường ở khu trung tâm Sài Gòn, đường này đi từ đường Hai Bà Trưng đến đại lộ Nguyễn Huệ, trước tòa Hòa giải. 

Bên phía lề đường số chẵn, xưa có đường sắt đầu tiên của tramway Sài Gòn - Chợ Lớn, đã bị tháo bỏ, được thay thế bằng tuyến đường ngắn hơn sau khi san lấp rạch Cầu Kho. Nối tiếp với ngã ba đường Taberd là lề đường dọc theo vườn Ông Thượng, cổng vào của công viên này ở ngay ngã ba đường Duranton. Thửa đất trong công viên gần góc đường Taberd là nơi gợi lại một phần lịch sử sự thành lập hội Đức Trí Thể Dục. Hội này có tên Pháp rất dài là Société pour L'Amélioration Morale, Intellectuelle et Physique des Indigènes de la Cochinchine, được gọi tắt bằng tên dễ nhớ là SAMIPIC. Samipic được một nhóm người Việt thành lập vào năm 1926. Trong số các mục tiêu của hội này ta có thể kể: yểm trợ tài chính cho các hội bạn (hội từ thiện, hội ái hữu, hội tương tế, hội thể thao), đóng góp quỹ xây dựng cư xá sinh viên tại Paris (có nơi cư trú dành cho sinh viên Đông Dương), cấp học bổng cho thanh niên nam nữ thiếu điều kiện tài chính để thực hiện việc học vấn, tổ chức những buổi diễn thuyết để quảng bá kiến thức, thành lập thư viện, v.v.  Cầm đầu ban trị sự vào năm 1927 có các ông: chủ tịch Trần Trinh Trạch, phó chủ tịch Nguyễn Văn Của, Hồ Văn Kính, v.v. Nguồn tài chánh của hội do từ tiền đóng hằng tháng của hội viên, tiền trợ giúp của ân nhân, tiền quyên góp trong các kỳ hội nghị, tiền trợ cấp do ngân sách nhà nước thuộc địa, v.v. chưa kể lợi tức thu thập từ các cuộc xổ số. Trong các năm 1927-1930, nơi thường nhóm họp của hội Samipic là trụ sở hội Nam Kỳ Công thương Tương tế (Association des Industriels et Commerçants Annamites de Cochinchine) ở tầng lầu căn nhà số 76 đường La Grandière, Sài Gòn. Nơi đây không phải là phòng hội nghị lý tưởng vì nhiều lần không đủ chỗ chứa hết thính giả.  

Nói về phòng hội nghị, người Pháp có nhiều câu lạc bộ vừa lớn vừa nhỏ. Hoa kiều thì mỗi bang có nhà hội quán riêng, khi cần họp đông đảo họ có Phòng Thương mại ở Chợ Lớn. Còn đồng bào ta vì thiếu nhà hội quán nên thường nhóm họp trong các căn phòng chật chội tại các tư gia. Thất vọng vì những cuộc đón tiếp thiếu chu đáo dành cho các thượng khách, trong đó có thi hào Tagore, các hội viên mong sớm được làm chủ một ''Việt Nam Tổng hội phủ'' rộng lớn hơn, để cho tất cả các hiệp hội của người Việt đều có thể đến nhóm họp. Samipic được Hội đồng thành phố Sài Gòn chấp thuận nhượng miếng đất ở góc đường

Verdun và Taberd, nơi đây tuy ở giữa chốn phồn hoa nhưng phong cảnh vừa đẹp vừa thanh tịnh. 

Năm 1928, thống đốc đã ký sắc luật chấp thuận cho Samipic phát hành 300.000 tấm vé số, giá mỗi tấm là 2 đồng, trên lý thuyết tổng số tiền là thu được là 600.000 đồng, được phân phối như sau: Tiền dành cho các lô trúng: 300.000 đồng, trong đó có lô độc đắc 60.000 đồng. Tiền dành cho cư xá sinh viên tại Paris: 200.000 đồng. Tiền trợ cấp cho các hội đoàn được phép hoạt động: 100.000 đồng.

Đầu năm 1929, thống đốc Blanchard de la Brosse chủ tọa buổi lễ đặt viên đá đầu tiên. Một chai champagne được đập vỡ trên khối xây tượng trưng bằng gạch và xi măng, tiếp theo là tiệc thức ăn nguội và bánh ngọt. Samipic dự định xây dựng một tòa nhà nguy nga lộng lẫy, ba tầng lầu, nền nhà hình chữ nhật, kiến trúc theo kiểu truyền thống dân tộc nhưng có đủ tiện nghi hiện đại. Có văn phòng cho hội trưởng và ban trị sự, phòng hội nghị cho các hội bạn đến nhóm họp, thư viện, phòng thông tin về hoạt động nông nghiệp trong xứ, thông tin về tổ chức du học, phòng trưng bày cổ vật, phòng đãi tiệc, phòng thể dục, phòng giải trí… Tổn phí xây dựng ước chừng hai, ba trăm ngàn đồng (tiền Đông Dương năm 1929). 

Nhưng không may dự án xây dựng bị đình chỉ, vì lúc ấy đang diễn ra cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, xứ Đông Dương cũng bị ảnh hưởng đến kinh tế, đồng tiền mất giá. Hơn ba năm đã trôi qua, người ta chờ mãi nhưng không thấy tòa nhà ở đâu. Bỗng nhiên gặp được cơ hội tốt, Samipic mua đấu giá ngôi biệt thự nguy nga ở số 98 đại lộ Gallieni với giá 38 000 đồng. Chủ nhân cũ của ngôi nhà này là ông Lê Văn Trước, đã bỏ tiền xây cất khoảng 250 000 đồng. Hội quán không được gần nơi trung tâm như đã mong muốn vì ở tận vùng Chợ Quán, bất tiện cho việc đi họp của các hội viên. Dù sao trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, tình cờ mua được báu vật bằng giá thích hợp với khả năng của hội, thì không cần đòi hỏi gì hơn nữa. Nơi đây có thể tổ chức mọi hình thức hội nghị, trong khung cảnh tráng lệ, xa nơi ồn ào náo nhiệt. Các hiệp hội khác cũng nhờ đó có nơi nhóm họp bên trong tòa nhà rộng rãi, sang trọng, tiện  nghi, thoáng đãng. Samipic tổ chức buổi yến tiệc chào mừng lễ khánh thành hội quán mới khai trương vào chiều thứ bảy ngày 16-2-1933. Tòa nhà này hiện nay mang số 606 đường Trần Hưng Đạo, quận 5.

Sài Gòn ngày càng đông dân và đất hẹp, không ai lấy làm lạ việc nhà cầm quyền chọn đất công viên để xây dựng công thự. Đất trống trong vườn Ông Thượng dọc theo đường Verdun được chọn làm nơi xây dựng Nhà Tương tế, phòng khám bệnh miễn phí thuộc hội Hồng Thập tự, Sở Y tế Nam Kỳ, v.v. 

Nhà Tương tế (Maison de la Mutualité) được xây dựng khoảng năm 1940, thuộc quyền sở hữu của Quỹ Tín dụng Tương tế Nông nghiệp (Caisse centrale de Crédit Agricole Mutuel). Một phần chi phí xây dựng tòa nhà này được tài trợ bằng tiền thu được do tổ chức giải xổ số. Tòa nhà này được dùng làm nơi hội họp dành cho các hội từ thiện, hội bảo hiểm, sở Thanh tra Lao động, các nghiệp đoàn, và đặc biệt phải kể đến Câu lạc bộ Đông Dương (Cercle Indochinois). Hội văn hóa này đã hoạt động từ trước năm 1937, khi chưa có trụ sở chính thức hội thường nhóm họp tại tư gia của các hội viên. Hội tổ chức các buổi diễn thuyết về các vấn đề pháp luật, y tế, xã hội, diễn giả là các bậc trí thức của Sài Gòn như các bác sĩ : Tân Hàm Nghiệp, Trần Tấn Phát, Trần Văn Đôn, các luật sư Lê Văn Kim, Phan Văn Thiết, Vương Quang Nhường, v.v. Khi Nhà Tương tế đã hoàn thành (khoảng 1940), Câu lạc bộ Đông Dương có nơi làm trụ sở. Ai đi trên đường Verdun, gần bên cổng vườn Ông Thượng, bị thu hút ngay bởi tòa nhà tân kỳ, trên trán nhà có mấy hàng chữ đắp nổi: ''Cercle Indochinois''. Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, tòa nhà này là trụ sở Tổng Liên Đoàn Lao Công. Hiện nay là tòa nhà Liên đoàn Lao động Thành phố.

Chúng ta tiến dần đến ngã tư Verdun - Chasseloup Laubat. Vào đầu thế kỷ 20 nơi đây hãy còn là một trong những cửa ngõ của Sài Gòn nhìn ra vùng làng quê ngoại thành. Tại góc vườn Ông Thượng gần ngã tư này là chỗ đặt bót cảnh sát Chợ Đũi, làm nơi kiểm soát an ninh đường ra vào thành phố. Sau khi sáp nhập làng Tân Hòa và Phú Thạnh vào thành phố Sài Gòn năm 1904 thì vai trò của bót này không còn cần thiết nữa nên được dời đi. 

Trên mảnh đất gần ngã tư, viện Bảo dục Nhi đồng (Institut de Puériculture) được khánh thành năm 1927, có sự góp phần vận động thành lập của bác sĩ Trần Văn Đôn, nghị viên Hội đồng quản hạt. Tòa nhà này được đánh giá là một kiến trúc mỹ lệ vào thời ấy, trông hao hao một biệt thự sang trọng, mặt tiền quay ra đường Chasseloup Laubat, phòng ốc rộng rãi nên còn dùng làm sở Y tế Nam Kỳ thời Pháp thuộc và là trụ sở Bộ Y tế thời Việt Nam Cộng Hòa. Viện Bảo dục Nhi đồng, còn được gọi là ''nhà thương Con nít'', do bác sĩ Bourgin làm giám đốc, có mục đích là trị bệnh cho các trẻ sơ sinh và truyền bá kiến thức vệ sinh cho các bà mẹ trong việc nuôi nấng con cái vì vào thời ấy số tử vong của trẻ sơ sinh rất cao.

Viện này có cả vườn trẻ và nhà gửi trẻ.     Năm 1933, viện Bảo dục Nhi đồng ngưng hoạt động do tốn kém nhiều mà hiệu quả thấp, nên đã đổi thành trường Điều dưỡng (Dispensaire-école) của hội Hồng Thập tự, đặt dưới sự cai quản của bà sơ Sempé, vị y tá nhiều kinh nghiệm. Được giám sát bởi sở Y tế, trường Điều dưỡng thực hiện hai mục tiêu chính: vừa cứu trợ những kẻ khốn khó, vừa đào tạo các nữ y tá tình nguyện.

Đồng thời một gian bên trong sở Y tế được dành làm Phòng bài lao, còn gọi là ''nhà thương Ho lao'' (Dispensaire antituberculeux), thành lập dưới sự bảo trợ của hội Chẩn tế Xã hội (Aide Mutuelle et d'Assistance Sociale, gọi tắt là AMAS). Phòng bài lao được trang bị máy quang tuyến X, các dụng cụ giải phẩu, kính hiển vi, máy bơm hơi vô màn phổi, v.v. Năm 1942, Phòng bài lao chuyển đi sáp nhập vào nhà thương thí ở đại lộ Bonard.

Trường Điều Dưỡng gia tăng hoạt động, trở nên chật hẹp nên đã được dời sang cơ sở mới ở gần đấy là nhà thương thí của hội Hồng Thập tự Pháp, số 24 đường Verdun. Trong cơ sở này, hội Chẩn tế Xã hội lập hội ''Giọt sữa'' (Goutte de Lait), ngoài việc phân phát sữa miễn phí cho các trẻ sơ sinh ở các gia đình nghèo mà các bà mẹ không thể nuôi con bằng sữa mẹ vì kém sức khỏe hoặc vì bệnh hoạn, còn có bác sĩ theo dõi tình trạng sức khỏe và sự phát triển của các cháu bé. Vài mươi phụ nữ tình nguyện mỗi người bỏ ra vài giờ trong tuần đến giúp việc phát thuốc, băng bó vết thương cho các trẻ em được cha mẹ dẫn đến. Hằng năm trong khuôn viên hội Hồng Thập tự diễn ra chợ phiên từ thiện, nơi đây bày bán quần áo phụ nữ và trẻ em, khăn tay, đồ chơi, đồ trang trí lặt vặt, cây cảnh, bánh kẹo, bột thực phẩm, v.v. Có cả nhiều trò giải trí cho trẻ em và người lớn, hàng nước giải khát. Trường Điều dưỡng ngưng hoạt động vào năm

1945, mở cửa lại từ tháng 9-1946…

                                                                          (Còn tiếp)



 





https://cothommagazine.com/wp/co-thom-93/





Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2021

 

Radio Saigon phát sóng âm nhạc Nam bộ ra thế giới

 

Phát minh vô tuyến điện tin (wireless telegraphy) cuối thế kỷ XIX đã mở ra một sự kết nối toàn cầu bằng sóng radio, phát triển rộng rãi từ thập niên 1930 đến 1940. Radio trở thành một phương tiện thông tin trực tiếp đại chúng từ các thành phố lớn đến những vùng hẻo lánh trên toàn thế giới. Sự lan rộng của radio trên thế giới cũng là thời kỳ bắt đầu xuất hiện các đài phát thanh đầu tiên ở Đông Dương.

 

Radio Saigon: kết nối Đông Dương với thế giới

Đài phát thanh Radio Saigon chính thức phát sóng lần đầu tiên ngày 18.7.1930 với sự hiện diện của Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier. Hai năm trước đó, đại diện của Công ty Vô tuyến Điện thoại Pháp - Đông Dương đã đến Paris đặt mua hệ thống phát thanh và ký hợp đồng với các nhạc công người Pháp để thực hiện những chương trình âm nhạc cho Radio Saigon.

Năm 1929, hai kỹ sư radio từ Paris đã lắp ráp các thiết bị cho đài phát sóng đặt tại khu Chí Hòa. Văn phòng hành chính của Đài Radio Saigon đặt tại số 106 Boulevard Charner (đại lộ Nguyễn Huệ ngày nay).

Tháng 4.1931 báo Le Petit Marseillais có liệt kê các quốc gia trên thế giới nghe được chương trình phát thanh của đài Radio Saigon “tiếng nói Đông Dương”: khu vực Thái Bình Dương (Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Philippines, Indonesia, Nga, Úc, Canada, Mỹ, New Zealand, và Nam Mỹ); khu vực Ấn Độ Dương (Ấn Độ, Mauritius, các quốc gia Đông Phi và Nam Phi, Madagascar); khu vực châu Âu (Pháp, Anh, Hungary, và nhiều nước khác).  



Cổng và tòa nhà của đài phát thanh Radio Saigon tại Chí Hòa. Nguồn: Frederic Vaillant (radiotsf.fr)

 

Báo L’Éveil économique de l’Indochine (19.7.1931) tường thuật ông Lévy - Lãnh sự Pháp ở Vân Nam, và ông Wilden - Bộ trưởng Pháp ở Bắc Kinh đều xác nhận là âm thanh từ Radio Saigon rất mạnh và rõ ràng. Thêm vào đó có nhiều thư phản hồi từ các thính giả Nhật Bản, Philippines, Indonesia, Ceyland và Mỹ đều khen ngợi chương trình biểu diễn âm nhạc của đài Radio Saigon được dàn dựng rất hay.

Làn sóng phát thanh từ Sài Gòn cũng được ghi nhận trong tài liệu lưu trữ ở một số quốc gia. Báo The Singapore Free Press and Mercantile Advertiser thường đăng chương trình biểu diễn âm nhạc của giàn nhạc thính phòng Radio Saigon cho thính giả Singapore. Ở New Zealand, báo Ngôi Sao xuất bản tại Christchurch (ngày 20.10.1920) có tường thuật: “Một đài phát thanh Pháp, Sài Gòn, tôi nghĩ vậy, trên làn sóng 23,6m, được nghe thấy gần như mỗi buổi chiều, nói chuyện với Paris sau 10.30 pm. Rất lớn”.

Tại Úc, nhiều thính giả đã viết thư cho tạp chí The Wireless Weekly để tìm hiểu thông tin về đài phát thanh mới này. Tòa soạn báo này đã có bài viết trả lời chi tiết (tháng 12.1930) và còn ghi rõ lời chào của phát ngôn viên: “Hello. Hello, here is Radio Saigon” (Xin chào. Xin chào, đây là Radio Saigon)…

 

Âm nhạc Nam bộ lên “giây thép gió” đến với thính giả toàn cầu

 

“Giây thép gió” là cụm từ tiếng Việt dịch từ tiếng Pháp “télégraphie sans fil”, thường được dịch chính thức là “vô tuyến điện tin” (tiếng Anh: wireless telegraphy/wireless radiotelegraphy). Chương trình phát thanh “T. S. F - Giây thép gió” của Radio Saigon gồm các tin tức chuyển tiếp làn sóng từ Paris, các thông tin kinh tế của Đông Dương, và các tiết mục biểu diễn âm nhạc trực tuyến. Thông tin chi tiết của chương trình phát thanh thường được đăng trước hai tuần trong phụ lục của báo Courrier de Saigon.  



Tháp phát sóng của Radio Saigon tại Chí Hòa. Nguồn: Frederic Vaillant (radiotsf.fr)

 

Mỗi buổi chiều từ thứ Năm cho đến thứ Ba, chương trình biểu diễn âm nhạc tài tử cải lương Nam bộ được phát sóng trực tuyến từ 18 giờ 30 đến 20 giờ; sau đó là chương trình biểu diễn âm nhạc phương Tây từ 21 giờ 15 đến 22 giờ 15. Ngày thứ Tư từ 18 giờ 30 đến 19 giờ 30 là chương trình độc tấu nhạc cụ phương Tây, sau đó có diễn tuồng cải lương từ 20 giờ 45 tới 23 giờ 30.

Sự ra đời của Radio Saigon đã đưa các nghệ nhân nhạc tài tử và vọng cổ cải lương Nam bộ lên sóng phát thanh “giây thép gió” đến với nhiều thính giả hơn, ngay ở Sài Gòn, ở Đông Dương và các thính giả mới từ những quốc gia khác.

Một chi tiết rất đáng chú ý là cách sử dụng cụm từ “tài tử” trong thông tin chương trình biểu diễn hàng tuần của Radio Saigon: “Như tài tử và người ca có xảy ra điều chi thì chúng tôi xin sửa đổi chương trình trên đây lại, xin quý vị miễn chấp”.  Đoạn văn này cho thấy trong thập niên 1930, cụm từ “tài tử” vẫn được dùng để chỉ giới nghệ nhân nhạc cụ cổ truyền.

Giàn nhạc thính phòng phương Tây của Radio Saigon được sự chỉ đạo của nhạc trưởng là nhà soạn nhạc André Soyer. Theo báo Les Annales coloniales (8.1930), giàn nhạc này gồm một số nhạc công nòng cốt từ Paris và trong các buổi hòa nhạc quan trọng sẽ có tăng cường thêm các nhạc công của khách sạn Continental và của hãng phim Eden Cinema.

Trong khi đó, báo L’Éveil économique de l’Indochine (1931) cho biết một thông tin thú vị là một nhóm trí thức người bản xứ ở Sài Gòn đã được thành lập để chọn lọc các nhạc công cho giàn nhạc Việt Nam của đài. Báo Úc ở Sydney có ghi nhận chương trình âm nhạc của Radio Saigon “nhấn mạnh âm nhạc Á châu hơn”. 




Phòng hòa nhạ trong tòa nhà của Radio Saigon tại Chí Hòa. Nguồn: Frederic Vaillant (radiotsf.fr).

 

Sự ra đời của Radio Saigon đã đưa các nghệ nhân nhạc tài tử và vọng cổ cải lương Nam bộ lên sóng phát thanh “giây thép gió” đến với nhiều thính giả hơn, ngay ở Sài Gòn, ở Đông Dương và các thính giả mới từ những quốc gia khác. Hàng đêm, các chương trình phong phú đa dạng với các bài bản quen thuộc như Lưu thủy, Giang Nam, Tứ đại oán, Nam ai, Ngũ đối hạ, Vọng cổ hoài lang v.v..,  được dàn dựng qua các tiết mục độc tấu, hòa tấu nhạc cụ cổ truyền với giọng ca, và cả diễn tuồng cải lương cho thính giả thưởng thức.

Theo tư liệu của Frederic Vaillant (radiotsf.fr), các buổi biểu diễn trực tuyến này được thực hiện tại phòng hòa nhạc của đài phát thanh Radio Saigon ở Chí Hòa.




Bản tin của Radio Saigon và một tờ chương trình biểu diễn âm nhạc trực tuyến của Radio Saigon (Tư liệu Thư viện Quốc gia Pháp).

 

Rất đáng tiếc là Radio Saigon phải chính thức ngừng hoạt động vào tháng 5.1932 vì thiếu kinh phí. Năm 1940, Chính phủ Đông Dương chính thức quản lý Radio Saigon và sau chiến tranh Thế giới thứ hai được đổi tên thành Radio France Asie. 

Sau gần một ngàn buổi phát thanh âm nhạc trực tuyến hàng đêm tại Radio Saigon, thông tin về các nghệ nhân tiền bối Nam bộ chỉ hiện hữu bằng những cái tên gọi rất đơn sơ như: cô Thạnh, ông Thiệt, ông Tỵ, cô Nhàn, ông Tui, cô Châu, và còn rất nhiều tên khác. Tuy nhiên, chắc chắn các thế hệ về sau sẽ trân trọng và tiếp tục nhắc mãi các tên gọi thân thương của những nghệ sĩ tiền bối đã đóng góp vào công cuộc duy trì và quảng bá văn hóa Nam bộ ra thế giới. 

TS. Nguyễn Lê Tuyên

(Nhà soạn nhạc, nghiên cứu âm nhạc và nghệ sĩ guitar; giảng viên world music tại Đại học Quốc gia Australia)

https://nguoidothi.net.vn/radio-saigon-phat-song-am-nhac-nam-bo-ra-the-gioi-32124.html

 

  Tết Sài Gòn trăm năm trước ra sao?   Biết những gì xảy ra trong quá khứ xa xưa dường như là mơ ước muôn đời của con người. Bởi trong c...