Thứ Năm, 2 tháng 6, 2022

 

SÀI GÒN CẢNH CŨ ĐƯỜNG XƯA

CHỢ ĐŨI (Tiếp theo)

** Mỹ Phước Nguyễn Thanh France **




Chúng ta trở lại ngã sáu Sài Gòn, từ nơi đây đi vào đường Frère Louis để tiếp tục chuyến du ngoạn vùng Chợ Đũi. Như đã nói ở bài trước, đường này có vai trò đặc biệt trong lịch sử thành phố Sài Gòn vì xưa kia nó là đoạn đường cái quan đi về vùng châu thổ sông Cửu Long. Vào những năm đầu thời Pháp đô hộ nó được đặt tên ''đường Mỹ Tho'' (Bản đồ 1861: Route de Mi-Thô), sau đó được gọi là ''đường Chợ Lớn'' (Route de Cholon). Vào thời này nó vẫn còn là con đường thôn quê, như lời mô tả trong Niên giám Nam Kỳ năm 1866: ''Đường Chợ Lớn thật là xinh, nơi mà ai cũng ưa thích dạo chơi. Nhìn ra hai bên ta thấy cảnh vật thay đổi từng ngày. Hầu hết đất đai ven đường đã có người mua hết và đang được cải tạo. Xưa kia bụi rậm phủ đầy nay sắp trở thành vườn tược, đồn điền''.


''Đường Chợ Lớn'' (Route de Cholon) trong bản đồ năm 1878

Sau nhiều năm đóng vai con đường chính nối liền Chợ Lớn với Sài Gòn, đường Chợ Lớn lại được đổi tên là ''đường trên'' (Route haute), để phân biệt với ''đường dưới'' (Route basse) mới mở đi dọc theo rạch Bến Nghé. Khi làng Tân Hòa được sáp nhập vào thành phố Sài Gòn (1904), một phần của ''đường trên'' cũng thuộc về thành phố Sài Gòn nên được đổi tên là ''đường La Grandière nối dài''. Đến năm 1922, theo thỉnh cầu của một số cựu học sinh trường Taberd, đoạn đường đi từ ngã sáu Sài Gòn đến đường Nancy (đại lộ Cộng Hòa / đường Nguyễn Văn Cừ) được đặt tên là Frère Louis, lấy tên thánh của vị tu sĩ Công giáo thuộc dòng tu La san là sư huynh Louis Gaubert (1844-1919), cựu hiệu trưởng các trường d'Adran và Taberd. Từ năm 1955 đến 1975, đường mang tên Võ Tánh, sau đó đổi thành đường Nguyễn Trãi cho đến nay.



Đường Chợ Lớn lại được đổi tên là ''đường trên'' (Route haute) 
trong bản đồ 1898


Đường Frère Louis.

Vào thập niên 1930 đường Frère Louis đã là phố xá buôn bán nhiều người qua lại nhưng chưa được khang trang như những đường trong khu trung tâm Sài Gòn. Số 18 đến 22: trường tiểu học Nguyễn Háo Kiển (1936-1942), dạy chương trình tiểu học bản xứ, thu nhận tối đa 70 học sinh. Có lớp tối dạy tiếng Pháp cho người lớn. Số 37: trường tiểu học Văn Công (1936-1943), thu nhận tối đa 70 học sinh. Có lớp tối dạy tiếng Pháp và tiếng Anh cho người lớn. Đây là một vài thí dụ về trường tư thục tiểu học ở Sài Gòn. Theo một biên bản của Hội đồng quản hạt Nam Kỳ, năm 1936 ở Sài Gòn có 9 trường tiểu học công lập, chứa tối đa 3600 học sinh. Đó là các cơ sở giáo dục bề thế, trong khi các tư thục thường nhỏ, số lượng trường lớp không nhiều nên chỉ có thể nhận khoảng 5800 học sinh, vì vậy còn lại hơn 6000 trẻ em không có chỗ học



Đường Frère Louis trong bản đồ 1942


Số 45: tòa soạn tuần báo Sống. Chủ nhiệm: Trần Thiêm Thới tức thi sĩ Trúc Hà (1935). Số 47: xưa gọi là Mả ông Lái Gẫm, nay là đền thánh Matthêu Gẫm, bên trong có bia đá ghi nhớ vị trí pháp trường Da Còm, nơi ông Lê Văn Gẫm (1813-1847) bị trảm quyết. Số 56: hãng xuất nhập cảng Nguyễn Kỳ Xương, nhà buôn lâu đời nhất trong khu phố, thành lập năm 1936, hoạt động đến 1975, chuyên về đồ phụ tùng xe đạp, xích lô, xe hơi…

Ta đến đường Ypres (Nguyễn Văn Tráng). Đường này là di tích của con đường xưa bắt đầu từ bờ rạch Bến Nghé, một dạo đã được đặt tên là ''Ancienne église de Chodui'' vì đi ngang nhà thờ Chợ Đũi cũ. Ngày nay đường ấy chia làm hai đoạn cách xa nhau: đường Đề Thám và đường Nguyễn Văn Tráng mà ta đang nói tới. Ypres là tên của một thành phố ở nước Bỉ, bị tàn phá nặng nề trong Đệ nhất Thế chiến. Địa danh này được chọn đặt tên đường vào năm 1920, lúc ấy hãy còn là đường ngắn đi từ đường Colonel Boudonnet (Lê Lai) tới đường Frère Louis. Suốt một bên của đường Ypres là nghĩa địa Chợ Đũi (còn gọi là ''đất thánh của họ đạo Chợ Đũi''), nằm phía sau đền Thánh Gẫm ngày nay (Bệnh viện thực tập của trường Đại học Y khoa Minh Đức dạo trước xây trên đất nghĩa địa này). Vào đầu thập niên 1930, giáo xứ Chợ Đũi cho chôn cất những kẻ đã qua đời tại nghĩa địa Chí Hòa, chứng tỏ rằng lúc ấy nghĩa địa Chợ Đũi đã nằm trong dự án được giải tỏa. Theo một thông cáo của chính quyền địa phương Sài Gòn - Chợ Lớn. vào năm 1942, tại nghĩa địa này còn 80 ngôi mộ được chờ cải táng để chỉnh trang khu phố. Khoảng đầu thập niên 1940, đường Ypres được nối dài đến đường Lacote (Ngô Tùng Châu / Lê Thị Riêng), cùng lúc thực hiện dự án xây dựng hai tháp nước cao 30 mét nhằm giải quyết vấn đề áp suất nước cho một số khu vực trung tâm thành phố. Ví dụ tại chợ Bến Thành, khi chưa xây tháp nước, công việc tưới nước rửa chợ kém hiệu quả vì vòi xịt chảy yếu do không đủ áp suất nước. Ta tiếp tục bước chân trên đường Frère Louis.

Ở đầu hẻm 150: chi nhánh trường tiểu học Văn Công nói trên đây (1936). Số 156: trường sơ học Gia Giáo (1933).

Số 168: trường sơ học Tương Lai (1938-1939).



Vị trí đường Ypres


Bước qua ngã tư đường Frères Guillerault (Bùi Chu / Tôn Thất Tùng) ta thấy nhà thờ Huyện Sĩ. Ông huyện Sĩ tên thật là Lê Phát Đạt (1841-1900), người giàu nhất Nam Kỳ vào cuối thế kỷ 19. Lúc sinh tiền ông đã lập di chúc mong muốn sau khi hai ông bà qua đời sẽ được chôn cất trong ngôi thánh đường ở Chợ Đũi. Ông đã di tặng họ đạo Sài Gòn khoản tiền khổng lồ để thực hiện việc xây dựng nhà thờ này. Linh mục Boutier lo phần thiết kế, xây cất từ năm 1902 đến 1905.

Phía sau nhà thờ ta gặp đường Massoulard (Lương Hữu Khánh). Tại giao lộ này đường Colonel Boudonnet (Lê Lai) nhập chung với đường Frère Louis, bên cạnh cổng xe lửa số 1 cũ, nơi đường sắt từ trong sân ga Sài Gòn chạy xuyên ngang qua đường Frère Louis rồi chia hai nhánh, một nhánh đi Chợ Lớn (tramway Chợ Lớn và xe lửa Mỹ Tho), một nhánh đi Hòa Hưng (xe lửa Biên Hòa, Đà Lạt, Nha Trang…). Đường Massoulard gồm hai đoạn không thẳng hàng và cách nhau bởi đường sắt. Ngày nay các đường sắt đã bị tháo gỡ, chừa lại khoảng trống biến thành các đường hẻm (Nay là hẻm 196 Nguyễn Trãi và hẻm 162 Bùi Thị Xuân). Tiếp theo ta đến ngã ba đường Lacouture (Đặng Đức Siêu / Nam Quốc Cang). Đường này và đường Massoulard vừa nói là những đường nhỏ đã lâu đời, không có kiến trúc nào đặc sắc. Tuy nhiên nơi đây là vùng đất lịch sử, theo ông Trương Vĩnh Ký (tài liệu đã dẫn) từ thế kỷ 17 vùng này đã có chợ Điều Khiển (chợ mang tên ấy vì ở gần dinh thự quan điều khiển) và chợ Cây Da Thằng Mọi (chợ gần cây da, bán đèn bằng đất nung hình người nô lệ).



Vị trí đường Massoulard 


Biệt thự Blancsubé

Ông Trương Vĩnh Ký nhắc đến tòa nhà của ông Blancsubé để làm điểm mốc giúp cho những người sống cùng thời với ông tìm ra vị trí một số di tích lịch sử. Đối với chúng ta, địa điểm xây dựng tòa nhà ấy là một bí ẩn. Chủ nhân ngôi nhà ấy là ông Blancsubé (1834-1888), vị luật sư từng làm thị trưởng Sài Gòn và nghị sĩ đại diện Nam Kỳ. Biệt thự Blancsubé phải là tòa nhà to dễ nhận cho bất cứ ai đi qua vùng này, vì trong nhiều tài liệu của quân đội nó được dùng làm điểm chuẩn để hướng dẫn trên bản đồ. Hội đồng quản hạt đã mua lại biệt thự này của luật sư Blancsubé trước năm 1881, khi ông này rời xứ Đông Dương đi nhiệm chức nghị sĩ thuộc địa, nhưng lúc ấy tòa nhà không được bổ dụng làm một công sở nào. Do đó biệt thự Blancsubé bị bỏ trống, một nhân viên được trả lương 7 đồng mỗi tháng để lo việc canh giữ. Trong suốt thời gian dài, từng trệt của tòa nhà dùng làm trại nuôi dê, cỏ dại mọc đầy, rắn rết đến làm hang ổ. Năm 1890, khi tòa nhà được định làm nơi cư trú cho các sĩ quan chỉ huy lính tập thì đã hư hao nặng, nhưng dù cho được sửa chữa toàn vẹn, quân đội vẫn chuộng sử dụng những ngôi nhà cũ trong thành Ô Ma vì tiện lợi cho việc đi lại hơn. Hội đồng quản hạt đã quyết định bán rẻ, chúng ta không rõ sau đó ai là chủ nhân tòa nhà.



Vị trí có thể là nhà của ông Blancsubé trong bản đồ hình minh họa năm 1898 của aston pusch,del

Vào thời đó, nhà báo Brébion, người sinh sống tại Nam Kỳ từ 1884 đến 1912, trong bài khảo cứu ''Monographie des rues et monuments de Saigon'', đăng trong Revue Indochinoise, năm 1911, cho biết bót cảnh sát Hòa Bình xây trên nền cũ của tòa nhà Blancsubé đã bị phá hủy. Mặt khác, bản đồ Sài Gòn của nhà in F. H. Schneider ở Hà Nội, phát hành khoảng năm 1900, cho thấy bót Hòa Bình ở giữa đường trên (Frère Louis) và rạch Cầu Kho, không xa chợ Thái Bình hiện nay. Nếu cả hai tư liệu vừa nói đều đáng tin cậy, ta có thể phỏng đoán vị trí của chợ Cây Da Thằng Mọi. Đến đầu thế kỷ 20, khi tái thiết khu vực này, vị trí của biệt thự Blancsubé nằm lọt vào đất nhà ga xe lửa Sài Gòn cũ, đối diện với đầu đường Nam Quốc Cang ngày nay. Theo ông Trương Vĩnh Ký, chợ Cây Da Thằng Mọi trải rộng từ trước nhà ông Blancsubé đến đường xe lửa, do đó ta hình dung được khu chợ ở giữa tứ giác Cống Quỳnh - Bùi Thị Xuân - Lương Hữu Khánh - Nguyễn Trãi.



Vị trí bót cảnh sát Hòa Bình trong bản đồ 1923 được đánh số 94 (?)



Nói tóm tắt, ngày xưa quãng đường đi từ ngã sáu Sài Gòn đến chợ Thái Bình lần lượt ta gặp:

 - Chợ Điều Khiển.

- Chợ Cây Da Thằng Mọi.

Nơi gọi là ''Nước Nhỉ'', chỗ đoạn đường luôn ẩm ướt vì nước đọng từ vùng Đồng Mồ Mả chảy xuống rạch Cầu Kho phía sau nhà ông Blancsubé. Xưa gần đấy có chùa Kim Chương, theo Gia Định thành thông chí, phía bắc chùa có dòng suối ngầm, quanh năm nước rỉ làm ướt đẫm cả đường đi. Có lẽ đoạn đường này ở gần Ngã năm chợ Thái Bình và bên cạnh thành Ô Ma cũ.

Ngoài ra, theo ông Trương Vĩnh Ký, phía trước ngôi nhà của ông Spooner (theo Brébion, Spooner là chủ nhân cũ của khu đất xây nhà thờ Huyện Sĩ), là xóm Lá Buôn dưới đời vua Minh Mạng. Tiếp tục chuyến đi dạo, ta đến ngã năm chợ Thái Bình, nơi đây là phần cuối của đường Colonel Grimaud (Phạm Ngũ Lão) và là nơi gặp nhau của đường Frère Louis và đường Arras (Cống Quỳnh).

Đường Arras mang tên của một thành phố ở phía Bắc nước Pháp, gần biên giới nước Bỉ, bị tàn phá hầu như hoàn toàn trong Thế chiến Thứ nhất. Đường Arras gồm hai đường cũ nhập lại vào năm 1920: đường Blancsubé (đoạn từ vùng Cầu Kho đến đường Frère Louis, có lẽ được đặt tên như vậy vì đường này đi bên cạnh nhà ông Blancsubé), và đường Camp des Mares (đoạn từ đường Frère Louis tới đường Chasseloup Laubat).

Từ ngã năm chợ Thái Bình đến đường Nancy, đường Frère Louis gồm một bên là nhà cửa của thường dân, một bên là khu quân sự rộng lớn mà người dân thường gọi là ''đồn Ô Ma'' hoặc ''thành Ô Ma''.



Vị trí đường Arras


Theo bản đồ Sài Gòn của Trần Văn Học, khi xưa đi trên đoạn đường cái quan này lần lượt sẽ gặp:

- Chùa Kim Chương, xây dưới đời vua Gia Long, trên nền cũ chùa Cao Miên, vị trí gần ngã năm chợ Thái Bình ngày nay.

- Miếu Công thần hay đền Hiển Trung, nơi thờ các vị công thần nhà Nguyễn, vị trí gần ngã ba Nguyễn Cư Trinh ngày nay.

- Miếu Thánh hay Miếu Hội đồng, nơi thờ các vị thần linh địa phương. Vị trí gần ngã ba đường Nguyễn Cảnh Chân ngày nay (Trong khuôn viên Tổng nha Cảnh sát Quốc gia thời Việt Nam Cộng Hòa, nay là Bộ Công an phía Nam).

Khu Ô Ma

Sau khi đánh chiếm thành Gia Định vào năm 1859, quân Pháp xây dựng ''phòng tuyến các chùa'', bắt đầu từ chùa Cây Mai ra tới chùa Khải Tường. Phòng tuyến này chạy qua vùng nhiều ao nước được người Pháp đặt tên là ''Les Mares'', nơi đây có đền Hiển Trung (miếu Công Thần) nên được họ gọi là Pagode des Mares. Bên ngoài đền có tường gạch bao bọc nên từ năm 1859 quân Pháp đã chiếm đóng làm nơi phòng thủ, đến năm 1862 họ còn dùng làm nơi đặt trọng pháo để yểm trợ cuộc tấn công Đại đồn Chí Hòa. Thời ấy người Pháp còn gọi đường thiên lý đi qua đây bằng tên không chính thức là ''route des Mares''. Theo cách gọi của người Pháp dân ta gọi khu này là khu Ô Ma

Theo ông P.C. Richard, nhân chuyến du hành đến Sài Gòn năm 1866, bên trong vòng rào của khu ''Les Mares'' có hai nơi thờ tự: miếu Hội đồng và đền Hiển Trung (tác giả này không nhắc tới chùa Kim Chương, vì lúc Pháp đánh chiếm, chùa dược tháo dỡ, dời về Cái Bè). Bên trong bức tường vây quanh đền Hiển Trung có hai ao nước nhỏ. Cũng theo P. C. Richard, trước ngày Pháp đánh chiếm, các vị sư già yếu lo việc trông coi ngôi đền và mộ phần các bậc danh nhân được mai táng xung quanh đền. Nhưng do hậu quả bi thảm của chiến tranh, ngôi đền biến thành kho thuốc súng, mấy gian nhà phụ dùng làm trại lính. Vùng đất xung quanh đền trước kia đầy những ngôi mộ được tô điểm đẹp mắt, sau biến thành đồng cỏ nuôi ngựa của sở Pháo binh, may thay còn nhiều cây cối chưa bị đốn bỏ nên phong cảnh vẫn còn khá duyên dáng.

Khu Les Mares rộng lớn lại còn nhiều đất hoang nên được chính quyền thuộc địa lập trại quân đội, trại nông nghiệp, v.v.


Thành Ô Ma (Aux Mares)


Đến năm 1911, bên trong khu Ô Ma vẫn còn bốn ao nước tù, nghị viên hội đồng quản hạt là bác sĩ Dejean de la Bâtie đã đề nghị xin lấp hết các ao đó để ngăn ngừa sự lây lan các bệnh truyền nhiễm.

Các đền miếu trong khuôn viên thành Ô Ma đều biến mất vào đầu thập niên 1950 vì quân đội Pháp tự tiện tháo dỡ mặc dù trường Viễn Đông Bác Cổ đã nhìn nhận là di tích lịch sử cần được bảo tồn.




Trường học của trại lính An Nam trong Thành Ô Ma - Phải chăng đây là hình ảnh duy nhất còn lại của Đền Hiển Trung?

Thời điểm chụp của bức ảnh, cùng với các chi tiết kết cấu kiến trúc của lớp học trong thành Ô Ma, là hai yếu tố cho thấy nhiều khả năng lớp học trong hình chính là một phần của đền Hiển Trung hay còn gọi là miếu Công Thần, là nơi thờ các công thần của nhà Nguyễn, mà theo các tài liệu cho biết vẫn còn tồn tại đến giữa thập niên 1950. (Mạnh Hải Flick)


Hình này chụp ngôi đền được cho là đền Hiển Trung 


Ngành chăn nuôi tại thuộc địa được bắt đầu tại khu Ô Ma vào năm 1864, chỉ vài năm sau khi Pháp đánh chiếm Sài Gòn. Thống đốc La Grandière lúc ấy chỉ thị việc thành lập trại chăn nuôi nhiều loại gia súc, đặc biệt là nuôi ngựa giống để thay thế ngựa bản xứ bị đánh giá kém về sức vóc. Hai mươi con ngựa cái giống ai cập được du nhập đến Sài Gòn. Ngựa đực giống được chọn từ các con ngựa của đội kỵ binh Nam Kỳ. Nhưng các thú nuôi như bò, ngựa, nhất là ngựa, không quen với khí hậu nên chết nhanh chóng. Chán nản vì sự tốn kém vô ích, năm 1875 thống đốc Duperré ban hành nghị định đình chỉ công cuộc nuôi ngựa giống. Tất cả các tòa nhà của trại nuôi ngựa cùng với đất đai chung quanh, diện tích ước chừng 43 héc-ta, được sửa sang làm nơi trồng thử nghiệm cây du nhập, lấy tên là ''Nông-trại Ô-Ma'' (Ferme des Mares), đặt dưới sự quản trị của ông Pierre, giám đốc vườn Bách-thảo (Sở thú).

Cùng lúc mở mang ngành chăn nuôi tại khu Ô Ma, vườn Bách thảo được thành lập bên bờ rạch Thị Nghè (1864). Ngoài việc nuôi những động vật hoang dã hầu gửi về bổn quốc, vườn này còn là vườn ương cây, vườn trồng thử nghiệm hoa màu và nhân giống một số cây nhập nội, đặc biệt là cây cà phê, được đem phân phối cho các nhà trồng tỉa muốn trồng thử loại cây này. Sau một thời gian hoạt động, vườn Bách thảo trở nên quá nhỏ để làm nơi thực hiện các cuộc thí nghiệm đáp ứng với đà phát triển nông nghiệp. Do đó vào tháng 2 năm 1875 thống đốc Duperré cho thành lập trại thí nghiệm trồng cây nông nghiệp tại sở nuôi ngựa Ô Ma đã dẹp bỏ.

Nhưng sau mười năm hoạt động, hao tốn rất nhiều chi phí, việc trồng các cây ngũ cốc, dệt, nhuộm, hoặc thức ăn cho gia súc, không mang lại kết quả mong muốn, cơ sở của nông trại Ô Ma cũng bị đóng cửa vào năm 1885. Các cây thí nghiệm như chàm nhuộm, va-ni, cà-phê, ca-cao, gutta-percha được đem trồng ở nơi khác.

Nông trại được cải tổ thành sở nuôi ngựa như trước kia, lần này do rút lấy kinh nghiệm từ những thất bại trong quá khứ nên việc chăn nuôi đạt được nhiều thành công hơn. Không rõ từ năm nào sở nuôi ngựa Ô Ma được dời đi Tân Sơn Nhất.

Trại lính tập Ô Ma

Từ năm 1859 quân Pháp đã mộ lính người Việt tiếp tay để đánh quân triều đình tại Đà Nẵng. Mãi đến 1875 trung đoàn lính tập mới được thành lập tại Sài Gòn (Theo L'Indochine Moderne của Teston và Percheron). Thời ấy doanh trại lính tập đóng tại Chợ Lớn. Lúc quân số gia tăng, lính tập đóng quân trong một góc khuôn viên của thành Gia Định cũ, phía sau thành lính Sơn Đá (Caserne du 11e régiment d'Infanterie coloniale, nơi đóng quân của trung đoàn bộ binh thuộc địa số 11, còn gọi là thành Ong Dèm, ở đường Lê Duẫn hiện nay).

Sau khi nông trại Ô Ma đóng cửa (khoảng 1885), một phần lán trại được sửa chữa làm chỗ ở cho lính tập, thường là nhà cửa thô sơ xây bằng vách ván lợp lá, trong khi các sĩ quan Pháp trú ngụ trong các nhà gạch lợp ngói gần bên. Để phòng tránh hỏa hoạn, chính quyền cấm dân chúng xây dựng nhà lá bên cạnh trại lính dọc theo đường Frère Louis.

Quân số lính tập ngày càng đông đảo, nhà nước thuộc địa tìm nơi xây thêm trại lính, có lúc định xây dựng tại vùng Hòa Hưng bên cạnh trường đua cũ nhưng lại bãi bỏ dự án. Một thửa đất 22 héc-ta được lựa chọn trong khuôn viên khu Ô Ma dành làm nơi đồn trú cho trung đoàn lính tập (Sắc luật do toàn quyền Doumer ký năm 1900). Từ đấy đến thập niên 1940, khu quân sự này còn được gọi là ''Régiment annamite''.



Lính tập tha2nnh Ô Ma


Vào đầu năm 1929 đã diễn ra một vụ cướp vũ khí thật táo bạo trong thành Ô Ma, thủ phạm là anh cai lính tập Võ Văn Hội đã đầu quân bằng tên giả là Giang Trung Chấn. Sau phiên gác đêm, Hội bỏ trốn mang theo hai khẩu súng liên thanh và một số súng đạn khác. Nhiều đồng đội bị tình nghi đồng lõa với Hội nên bị bắt, riêng anh ta đã trốn biệt tăm. Nhưng điều bí ẩn là anh ta làm cách nào mang ra khỏi trại lính số súng đạn cồng kềnh đó? Hai năm sau, theo sự chỉ dẫn của thư nặc danh, lính mật thám chỉ tìm được vỏn vẹn một cây súng liên thanh chôn giấu trong một thửa ruộng ở vùng Đức Hòa, nhưng súng đã sét rỉ không còn sử dụng được. Sau ba năm trốn tránh, anh Hội bị bắt tại Soài Riêng (Campuchia), lính mật thám giải giao anh về Sài Gòn, anh bị khép tội hoạt động cách mạng, lãnh án khổ sai, bị đày ra Côn Đảo. Tháng 7 năm 1935, Hội cùng nhiều bạn tù đóng bè để vượt ngục về đất liền. Sau 4 ngày lênh đênh trên biển cả, bè tắp vào vùng bờ biển Xuyên Mộc, nhưng chẳng may anh ta bị bắt lại.

Từ ngã năm chợ Thái Bình ta lại tiếp tục đi theo đường Frère Louis, dọc đường ta thấy vài địa chỉ đáng lưu ý: Số 201: tư gia đốc phủ sứ Trương Vĩnh Viết, ông từ trần tại đây năm 1938.

Số 203: tư gia ông Nguyễn Phan Long, nhà báo, hiệu trưởng tư thục, cựu thủ tướng. Ông cư ngụ tại đây vào những năm 1932-1933.

Số 205 và 215A-215B: ký túc xá Võ Thành Cứ, tư thục tiểu học và cao đẳng tiểu học. Số học sinh lên tới 130, trong đó tối đa có 30 học sinh nội trú (1933-1935).

Số 217: nhà bảo sanh Hồng Phúc của cô mụ Phạm Thị Hồng, nằm trong biệt thự giữa sân vườn (1937-1940).

Số 219: tư gia ông Trương Vĩnh Tống (khoảng 1932-1938).

Trong hẻm 233: trường sơ học Martin (1935-1936).

Ta đến ngã ba đường Nguyễn Tấn Nghiệm (từ năm 1955 đổi tên là Bùi Chu, đến 1985 đổi thành Trần Đình Xu).

Đoạn đường ta vừa đi qua có nhiều hẻm ăn thông vào khu nghĩa địa Cầu Kho (khu Mã Lạng). Vào năm 1932, một trong các hẻm ấy có ga-ra Orly của kỹ sư Phạm Thế Kinh. Vụ lính mật thám vây bắt những người tình nghi lập ''hội kín'' tại đây đã gây xôn xao dư luận không ít.

Vụ án Garage Orly

Tháng 3 năm 1930, nhiều sinh viên Việt Nam bị bắt tại Paris sau cuộc biểu tình trước điện Élysée để phản đối thực dân Pháp kết án tử hình các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng đã khởi nghĩa tại Yên Báy. Ba tháng sau, tháng 6-1930, 19 học sinh bị trục xuất về đến Sài Gòn, trong đó có Tạ Thu Thâu, Hồ Văn Ngà, Huỳnh Văn Phương, Phan Văn Chánh, Lê Bá Cang, Ngô Quang Huy. Khi các học sinh ấy vừa đặt chân trên đất Sài Gòn, sở mật thám liền ráo riết theo dõi từng người.

Tháng 8 năm 1932, đang lúc khoảng 10 người tụ họp trong căn phòng ở phía sau ga-ra Orly trong một hẻm trên đường Frère Louis thì lính mật thám ập đến vây bắt vì họ bị tình nghi đang dự cuộc họp chi bộ của đảng Trotsky. Trong số người bị bắt, ngoài chủ nhân của ga-ra là kỹ sư Phạm Thế Kinh, còn có ông Nguyễn Đình Khánh chủ tiệm ảnh Khánh Ký. Theo lời khai của một vài người bị tra tấn, mật thám đến khám xét nhiều nơi ở Sài Gòn, Gia Định, tìm được những nhà in, xưởng chế tạo vũ khí, những ấn phẩm bị cấm. Nhiều nhân vật quan trọng bị bắt sau đó như Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Huỳnh Văn Phương, Lê Văn Thử, Phan Văn Chánh. Lúc xét nhà của một người thợ máy tên Trần Văn Xuân ở đường Trương Minh Ký (nay là đường Nguyễn Thị Diệu), cò mật thám Perroche bắt được các tài liệu viết tay giống chữ viết của ông Tạ Thu Thâu. Theo các lời khai man của ngững người bị tra tấn, ông Thâu bị tình nghi là lãnh tụ của đảng Trostky và đảng Cộng sản Tả đối lập. Nhưng ông Thâu một mực phản đối rằng mình không phải là người biên chép những tài liệu đã tịch thu và cũng không phải là lãnh tụ của hai đảng ấy. Trong khi phần lớn các người bị bắt được tha bổng hoặc lãnh án tù treo, trừ những người chứa chấp vũ khí hoặc truyền đơn đều bị án tù, riêng ông Thâu bị giam 4 tháng tại bót Catinat. Sau những cuộc giám định chữ viết được thực hiện từ Sài Gòn sang đến Pháp kéo dài suốt 18 tháng, các luật sư Phan Văn Giáo và Blaquière đem chứng cớ ra chỉ rõ các tài liệu viết tay ấy không phải của ông Thâu. Người viết thực sự là ông Ngô Quang Huy đã chấp nhận biên chép trước mặt các luật sư làm chứng để chứng minh ông Thâu vô tội. Vụ án ga-ra Orly liên can đến hơn 30 người. Người bị đem ra xử đi xử lại nhiều lần chính là ông Tạ Thu Thâu. Ngày 20-6-1935 tòa tuyên án ông hai năm tù treo là lúc ông đang giữ chức nghị viên hội đồng thành phố và ông đang có mặt trên đất Bắc. Tuy hôm ấy ông vắng mặt trong phiên xử (người thay mặt ông Thâu là luật sư Viviès), nhưng người đi xem thật đông đảo để bày tỏ cảm tình của đồng bào đã dành cho một nhà cách mạng, nhà yêu nước.

Từ đường Nguyễn Tấn Nghiệm tới đường Nancy ta gặp:

Số 329: hội Truyền giáo Tin lành (1926- 1975). Bà Grace Cadman, một trong những dịch giả bản Kinh thánh Tin lành tiếng Việt đầu tiên, đã tạ thế tại đây vào năm 1946.

Số 347-349: trường sơ học Martin (1936-1938)

Trên đoạn đường này ta còn gặp đường Général Marchand (Nguyễn Cư Trinh), được xây dựng từng phần, bắt đầu từ phía đại lộ Gallieni vào năm 1942, lúc ấy được đặt tên là Maréchal Pétain vì đã có dự định nối dài xuyên qua thành Ô Ma đến tận đại lộ Maréchal Pétain phía Chợ Quán (Từ 1955 đến 1975 là đường Thành Thái, nay là đường An Dương Vương).



Vị trí đường Général Marchand


Một hẻm rộng nối thông từ đường Frère Louis đến đại lộ Gallieni, năm 1950 hẻm này trở thành đường René Nicolau. Từ 1955 đến nay là đường Nguyễn Cảnh Chân.

Đến cuối đường Frère Louis ta gặp đường Nancy, con đường đi từ công trường Nancy (công trường Cộng Hòa) đến đại lộ Gallieni và nối dài đến bờ rạch Bến Nghé. Đường này đổi tên nhiều lần: Nancy, Grand Couronné, Khải Định, Cộng Hòa, Nguyễn Văn Cừ. Xưa là ranh giới Sài Gòn - Chợ Lớn nên tên cũ của đường này là Route Limite. Ngoài ra còn được gọi là đường Tân Hòa vì đi qua làng cũ cùng tên. (Còn tiếp)

 

                                                 Mỹ Phước Nguyễn Thanh – France




Nguồn: 
https://cothommagazine.com/wp/


Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2022

 

Sài gòn - Những biến đổi theo dòng thời gian

 

1. Khách sạn Continental – Nhà hát thành phố - Khách sạn Caravelle.

Khu vực khách sạn Continental

Trước khi có khách sạn Continental thì nơi đây đã từng hiện diện một khách sạn mang tên Le Favre. Thực tế tới giờ cũng kho7ng ai biết năm xây dựng và hoàn thành của nó cũng như diện tích hay mức độ đồ sộ của nó.  Đến năm 1878, dưới thời Pháp thuộc, khách sạn có tên là Continental do ông Pierre Cazeau, một nhà sản xuất vật liệu xây cất và dụng cụ trong nhà. Ông Cazeau muốn mở một khách sạn sang trọng để tiếp đón các du khách từ Pháp đến Sài Gòn sau một cuộc hải hành rất dài Xây cất mất 2 năm, và Khách sạn Continental khánh thành năm 1880.


 Khách sạn Continental thời Pierre Cazeau làm

 


 Khách sạn Continental năm 1905


Năm 1911, khách sạn được bán cho Công tước De Montpensier (người xây Lầu Ông Hoàng ở Phan Thiết). Năm 1930, khách sạn được bán cho một tay trùm tội phạm từ đảo Corse tên Mathieu Francini. Francini quản trị khách sạn cho tới năm 1975. Trong những thập niên 1960-1970, chánh phủ Sài Gòn bắt các cơ sở thương mại phải dùng bảng hiệu tiếng Việt, vì thế khách sạn có tên là "Đại Lục Lữ Quán".

Khách sạn Continental đã tiếp đón nhiều nhân vật nổi tiếng như nhà thơ Ấn Độ Rabindranath Tagore (Giải Nobel văn chương 1913), văn hào Pháp André Malraux, văn hào Anh Graham Greene (tác giả chuyện Người Mỹ trầm lặng). Trong thời Chiến tranh Việt Nam, khách sạn cũng là nơi tụ họp của các ký giả, nhà báo, chánh khách, và thương gia ngoại quốc hoạt động tại Sài Gòn.

Khách sạn đóng cửa vào năm 1976 và mở cửa trở lại vào năm 1986 với tên gọi Đồng Khởi. Khách sạn được trùng lặp từ năm 1988-9 và mở cửa trở lại vào năm 1989 với tên gọi Khách sạn Continental (nguồn Wikipedia).

Khu vực Nhà hát thành phố

Ngay từ năm 1893, chính quyền đã quyết định rằng Sài Gòn cần một tòa nhà lớn hơn và ấn tượng hơn, một tòa nhà phản ánh rõ hơn những vinh quang của đế quốc Pháp.

Năm 1895, một thiết kế cuộc thi được tổ chức và các bài dự thi của ba kiến ​​trúc sư - Ferret, Genet và Berger - đã lọt vào danh sách các lựa chọn. Cuối cùng, giám khảo đã chọn thiết kế của Eugène Ferret, người được lấy cảm hứng từ Petit Palais ở Paris. Đầu năm sau, kế hoạch chiến thắng của Ferret cho chiếc áo “Grand-Théâtre de Saigon” 800 chỗ ngồi mới được trưng bày tại Triển lãm 1896 Du théâtre et de la musique ở Paris.

Saïgon - Théâtre Municipal - bức ảnh "chỉnh màu" của Théâtre de Saïgon vào thế giới kỷ 20

Công việc bắt đầu vào cuối năm 1896, nhà hát thứ ba và hiện tại của Sài Gòn được hoàn thành vào cuối năm 1899. Nó được khánh thành vào ngày 15 tháng 1 năm 1900, trước sự chứng kiến ​​của Thị trưởng Sài Gòn Paul Blanchy và Hoàng tử Waldemar của Đan Mạch, lúc đó đang có chuyến thăm cấp nhà nước tới Đông Dương. Buổi biểu diễn đầu tiên có buổi ra mắt tại Châu Á vở opera La Navarraise của Jules Massenet.




Sau năm 1955, nhà hát được trang mới lại hoàn toàn và chuyển thành tòa nhà Quốc hội rồi thành Nhà Văn Hóa một thời gian. Đến năm 1967, trở thành trụ sở của Hạ nghị viện cho đến năm 1975.

 







Sau năm 1975, trở lại công năng ban đầu là một nhà hát gọi là Nhà Hát thành phố.

Khu vực giờ là khách sạn Caravelle

Khu vực này, hội đồng thành phố Sài Gòn quyết định cho xây nhà hát thành phố kiên cố hơn để thay thế nhà hát thứ nhứt tại công trường Đồng hồ (Place de l”horloge) tức là khu vực của trường Taberd đã bị hỏa hoạn năn 1881. Nhà hát này còn gọi là nhà hát thứ hai.




Đến năm 1895, một cuộc thi thiết kế nhà hát lớn cho thành phố được tổ chức và cuối cùng bản thiết kế của Eugène Ferret được chọn.và vị trí xây dựng là phần đất kế bên nhà hát thứ hai.

Về sau, khu vực này mọc lên quán Grand Cafe de la Terrasse, là một trong những quán cà phê đầu tiên và nổi tiếng của Sài Gòn từ cuối thế kỷ XIX.

 


 

Về sau cuối thế kỷ 20, hãng Catinat Foncier mua lại và cho phá tòa nhà cũ đi để xây cất doanh sở thương mại mới. Vì không đủ vốn nên Catinat Foncier cho góp vốn, trong số đó có hãng hàng không Air France và cả Giáo hội Công giáo Việt Nam. Nhân khi đó Air France vừa mới mua được một đoàn máy bay phản lực Caravelle của xưởng sản xuất Sud Aviation nên đã sốt sắng đề nghị dùng tên "Caravelle" để gọi tòa nhà này. Người thiết kế là kiến trúc sư Nguyễn Văn Hoa (nguồn Wikipedia).




Công trình bắt đầu xây năm 1957, được khai trương vào đêm vọng Lễ Giáng Sinh năm 1959. Khách sạn Caravelle lúc bấy giờ là tòa nhà hiện đại và cao nhất Sài Gòn, giá một đêm là 17 Mỹ kim; lầu thứ 8 có quán Jerome có thang máy, máy lạnh, nước nóng, điện thoại. Vì lý do an ninh, cửa kính dùng loại kính chống đạn. Với địa điểm thuận lợi giữa thành phố cùng đầy đủ tiện nghi nên chính phủ New Zealand, và Úc đã từng mướn một căn trong tòa cao ốc làm đại sứ quán. Caravelle trong thời chiến còn là nơi nhóm họp của các ký giả kỳ cựu quốc tế vì trên sân thượng tầng thứ 10 có thể phóng tầm mắt nhìn bao quát cả thành phố Sài Gòn lúc bấy giờ. Các hãng truyền hình Hoa Kỳ CBS và ABC cũng như nhật báo New York Times đều đặt trụ sở ở đây.

Khách sạn Caravelle cũng là địa điểm họp mặt của nhóm trí thức và chính khách thời Đệ Nhất Cộng hòa khi họ soạn thỉnh nguyện thư đòi Tổng thống Ngô Đình Diệm cải tổ chính trị để mở rộng nền dân chủ. Bản văn kiện đó được công bố rộng rãi năm 1960, tác động nhiều đến chính trường Miền Nam. Nhóm người đó sau được gọi chung là Nhóm Caravelle. (nguồn Wikipedia)

Sau năm 1975, khách sạn bị trưng thu làm khách sạn quốc doanh dưới tên Khách sạn Độc Lập (Independence) thuộc Tổng công tu du lịch Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1992 dưới một hợp đồng liên doanh với Chains International Hotels Management Singapore Pte. Ltd, khách sạn chuyển cho Chains-Caravelle và tên "Caravelle" được phục hồi. Ban quản lý mới đề nghị phá tòa nhà cũ, xây lại mới nhưng Giáo hội Công giáo Việt Nam - với tư cách là một cổ đông lớn - phản đối và xin chính quyền hoàn lại cơ sở này cho Giáo hội nếu phá hủy công trình cũ. Kết cục việc xây cất cao ốc 24 tầng mới được thực hiện (hoàn tất 1997) nhưng tòa nhà năm 1959 vẫn giữ nguyên. (nguồn Wikipedia)

 

2. Hình so sánh của Paul Blizard




Nguồn: Hình so sánh của Paul Blizard trong Saïgon Chợ Lớn Then & Now

             Hình Mạnh Hải Flick

             Tài liệu Wikipfdia

 

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2022

 

Sài gòn - Những biến đổi theo dòng thời gian

 

 

1. Bưu điện quận 1 góc đại lộ Lê Lợi - đường Pasteur (phía bên Bộ công chánh/nước mía Viễn Đông ngày xưa):

Ngày hôm nay khi trở lại khu vực này, những người Sài Gòn xa xứ sẽ không còn nhận ra vì mọi thứ đã thay đổi hết. Cái thời rong rũi bên vĩa hè tìm đọc hay mua những cuốn sách cũ hay vào bưu điện dể gởi thơ, gởi mandat, nhận bưu kiện và đánh diện tín. Nếu có đói bụng hay khát nước thì ghé qua Viễn Đông. Tất cả chỉ còn trong ký ức.

Vị trí của bưu diện này xuất hiện lâu đời trong bản đồ Sài Gòn cụ thể là năm 1898 khi khu vực này đã mang tên là Magasins des travaux publics




Bên khu vực bưu điện bên đại lộ Bonnaed và đường Pasteur bấy giờ là vĩa hè thông thoáng đến đầu thập niên 1950. Về sau khu vực này, chánh quyền Sài Gòn thời bấy giờ cho mở ra khu vực buôn bán sách báo cũ và cho xây cầu tiêu công cộng, đã tạo ra khung cảnh không mấy gì đẹp đẽ và bị ô nhiễm môi trường do nhà vệ sinh gây ra. Còn nguyên khu vực này trở thành trụ sở của Bộ Công Chánh, riêng bưu điện thì không được sửa sang bao nhiêu kéo dài tận năm 1975.



 

Phía lề đường bên Bộ Công Chánh còn thông thoáng trước thập niên 1950


Sau thời đó thì bắt đầu các sạp bán sách cũ và hàng rong chen chúc nhau.








Và nhà vệ sinh



 

Còn bưu điện thì xuống cấp




Toàn cảnh khu vực này nhìn từ trên cao và từ xa










Bưu điện quận 1 tồn tại sau năm 1975 một thời gian thì khu đất này đượcc giải tỏa đề xây Saigon centre tower



2. Hình ảnh mới nhứt của Tim Doling trong Saïgon Chợ Lớn Then & Now.



 Hình ảnh: Mạnh Hải Flick, Tim Doling,

Thứ Năm, 5 tháng 5, 2022

Sài gòn - Những biến đổi theo dòng thời gian

 

Đây là tiếp nối của mục Ngày Ấy Và Bây Giờ của trang blog này. Ở mục này, người viết sẽ cố gắng thu thập những hình ảnh có liên quan của từng góc phố, ngả tư, từng công trình, quảng trường v.v… thay đổi theo từng thời gian từ thuở Sài Gòn còn sơ khai cho đấn tận bây giờ, kèm theo chú thích cho từng hình để đọc giả có thể hiểu rõ và cảm nhận nhứt là đồi với những đọc giả đã từng sanh ra và lớn lên ở thành phố này đang còn ở trên đất nước này hay đang sống trên khắp thế giới, xa nơi đầy ắp ký ức này.

1. Góc đại lộ Lê Lợi - đường Pasteur (phía bên rạp Casino ngày xưa):

Ngày xưa thời Pháp thuộc góc này có tên gọi là góc boulevard Bonnard et rue Pellerin. Năm 1910, rạp Casino Sài Gòn đầu tiên ở số 30 đại lộ Bonnard (Lê Lợi), nhưng sau đó nó đã được mở rộng sang số 28, tòa nhà liền kề lớn bên góc đường Pellerin (Pasteur).

 


Rạp Casino Sài Gòn thuở ban đầu


Rạp Casino Sài Gòn sau đó được mở rộng sang số 28 đại lộ Bonnard bên cạnh



 

Tòa nhà ban đầu sau đó được tu sửa lại để trở thành nhà hàng - quán café của Casino, được biết đến sau năm 1915 là " Brasserie des sports " và được quản lý bởi một trong những đối tác kinh doanh của Bernard là Daniel Courreges.



 


Rạp Casino Sài Gòn số 28 - 30 đại lộ Bonnard

Hay góc Bonard – Pellerin thập niên 1910 -1920

  

2. Biến đổi trong thập niên 1950

Trong những năm cuối thập niên 1950, một rạp chiếu phim Casino lớn hơn và hiện đại hơn được xây dựng bên góc ở số 59 Pasteur.

 


Mặt bên đại lộ Lê Lợi (Bonard cũ) được sửa sang lại và xuất hiện hai tiệm kinh doanh mới là Nhà sách Sài Gòn và tiệm Kim Hoa

 




 



 



Sau 1975, rạp Casino Sài Gòn đổi tên lại là Vinh Quang và nhà sách Sài Gòn cùng tiệm Lim Hoa biến mất thề vào là tòa nhà cao tầng/

  


 

Năm 1998 rạp Vinh Quang (Casino cũ) tại 59 Pasteur đã được chuyển đổi thành Sân khấu Kịch Sài Gòn.



 

Sau dó một thời gian, Sân khấu Kịch Sài Gòn bị dỡ bỏ để xây dựng khách sạn Liberty Central 




3. Hình ảnh mới nhứt của Tim Doling trong Saïgon Chợ Lớn Then & Now.




Nguồn: Bài: BIỂU TƯỢNG SÀIGÒN XƯA - RẠP CASINO SÀI GÒN NĂM 1910 của Tim Doling

              Hình ảnh: Mạnh Hải Flick, Tim Doling,

              https://congan.com.vn/

 

 

Thứ Tư, 13 tháng 4, 2022

 

Những nhà sách xưa

  

Nhà sách ở Sài Gòn cách nay hơn nửa thế kỷ tập trung nhiều ở khu trung tâm Sài Gòn. Ở các vùng ngoại vi như Phú Nhuận, Ông Tạ, Bà Chiểu... cư dân cũ kể rằng ban đầu không có mấy nhà sách, trừ vài tiệm bán sách giáo khoa cùng đồ văn phòng.

 

“Tây in sách, Việt Nam chứa sách, Tàu phổ biến sách”, có câu nói trong giới viết lách thời xưa, mà nhà văn Thế Phong nhắc lại trong cuốn "Nhà văn tác phẩm cuộc đời" (NXB Đại Ngã, 1970).

Câu này ắt được nói đến từ thời Pháp thuộc, khi công nghệ in ấn ban đầu trong tay người Pháp. Các nhà xuất bản người Việt in sách xong đưa vào kho nhưng phát hành ra công chúng phải theo hệ thống của người Hoa trong Chợ Lớn, có mạng lưới buôn bán rộng khắp và giỏi kinh doanh.

Ở câu chuyện này, khi bán sách in ronéo cho một ông chủ nhà thầu sách người Hoa, nhà văn Thế Phong nhận xét: “Ông này rất khôn ngoan, biết sách hay. Những cuốn như "Nhà văn hậu chiến" hay "Nhà văn tiền chiến" ông bán rất đắt. Cuốn sách ba chục, ông bán gấp đôi. Ông còn bán sách Tây hiếm với giá rất cao”.


Nhà sách Tinh Hoa trên đường Trần Hưng Đạo, quận 1, của nhạc sĩ Lê Mộng Bảo. Tư liệu gia đình của HS. Lê Mộng Lâm


Chuyện người Hoa Chợ Lớn bán sách tiếng Việt còn được được nhắc lại trong cuốn sách khá thú vị của nhà văn Nguyễn Công Hoan, hồi ký "Nhớ và ghi về Hà Nội". Thời Pháp thuộc, ông Vũ Đình Long, chủ nhà xuất bản Tân Dân thường xuyên gửi sách của nhà xuất bản vô Nam để bán, và bán rất chạy. Ông Hoan kể, một lần vào Nam, buổi sáng ông đến nhà Đỗ Phương Quế là tổng đại lý sách Bắc ở Chợ Lớn để xem bán sách.

Ở đó, ông thấy một người vào nhà sách hỏi hôm nay có sách ngoài Bắc vào chưa? Chủ hiệu đáp có. Khách bảo chủ tiệm bán. Chủ tiệm lấy tất cả các sách mới nhận được, gói vào một gói rồi đưa khách. Khách hỏi giá rồi xỉa tiền ra trả, không cần biết trong gói có những sách gì tác giả nào. Nguyễn Công Hoan than: “Thấy kiểu mua sách ấy, mình ngán quá!”.

Đọc đoạn văn này, ta thông cảm với sự nhạy cảm của nhà văn, nhưng mặt khác có thể nghĩ rằng người mua sách có thể là một đại lý con của tổng đại lý bán sách từ Bắc vào, họ mua về để tiếp tục bán lẻ cho khách chuộng sách của các nhà văn miền Bắc nên không nhất thiết phải xem sách trước. Hoặc có khi khách chỉ là người đi giao nhận cho chủ tiệm sách nào đó ở Sài Gòn.

Nhà sách Đỗ Phương Quế không chỉ bán mà còn xuất bản sách, có những cuốn có giá trị như cuốn "Việt Nam Tây thuộc sử" của Đào Trinh Nhất (xuất bản 1937 ở Chợ Lớn), "Nỗi lòng Đồ Chiểu" của Phan Văn Hùm (xuất bản 1938) và "Biện chứng pháp phổ thông" cũng của Phan Văn Hùm.

Nguyễn Công Hoan kể sau đó nhà sách này và ông Vũ Đình Long có mâu thuẫn với nhau: “Nhà này (Đỗ Phương Quế), trước thì rất sòng phẳng, nhưng sau, thì mỗi số Tiểu thuyết thứ bảy, dù bán hết, cũng nói là chưa bán hết, còn đọng một ít. Nhà xuất bản không muốn lấy báo ế vì sợ tốn tiền đài tải. Và những số báo ế, cứ gửi ở đại lý, có khi dần dần vẫn bán được.

Nhà Đỗ Phương Quế cho là nhà Tân Dân ở xa, không thể kiểm soát được, nên làm lối ấy mấy năm trời, để được món tiền khá lớn.

Nhưng đến khi nhà Tân Dân biết, nên không cho Đỗ Phương Quế làm tổng phát hành nữa. Người anh em rể của Vũ Đình Long là Nguyễn Khắc Đàm mới vào Sài Gòn, mở hiệu bán sách, làm tổng phát hành cho nhà xuất bản Tân Dân”.

Câu chuyện nhận sách bán, khai thấp hơn số lượng bán ra để trả tiền ít hơn, chiếm dụng vốn cho đến giờ vẫn còn tồn tại.

Trong cuốn "Sài Gòn, chuyện đời của phố" tập 1, được sự giúp đỡ của gia đình ông Nguyễn Khánh Đàm ở Hà Nội, tôi có bài viết về nhà sách của ông trên đường Sabourain (Lưu Văn Lang ngày nay) ở trung tâm thành phố. Nhà sách chỉ tồn tại trong sáu năm (1939-1945), nhưng có ý nghĩa trong đời sống văn hóa Sài Gòn cho đến giờ vì góp phần quan trọng giúp độc giả miền Nam đọc được văn chương miền Bắc xa xôi đang phát triển mạnh.

Nhà sách đã tổ chức cuộc triển lãm Báo chí Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1943, giúp người đọc cả nước biết đến nền báo chí non trẻ của nước Việt. Ở thời đó, nhà sách đã được trưng bày rất hiện đại, chuyên nghiệp, có nhiều tủ kệ ngăn nắp và có tủ kính đặt giữa nhà sách bày những ấn phẩm đặc biệt.

Năm 1944, ông Nguyễn Khánh Đàm lên Đà Lạt mở thêm hiệu sách thứ hai. Nhà sách Nguyễn Khánh Đàm ở Sài Gòn tồn tại đến năm 1945 thì ngưng hoạt động và có lẽ nhà sách trên Đà Lạt cũng chịu chung số phận.

Cùng khoảng thời gian này, có tiệm sách Thanh Thanh khá có tiếng ở số 120 de la Somme (Hàm Nghi), cũng chuyên bày bán các loại sách từ miền Trung và miền Bắc đưa vào, thiên về sách học thuật bên cạnh các tiểu thuyết.




Quảng cáo nhà sách Vĩnh Bảo. Tư liệu: PCL


Trên báo Tân Văn ra năm 1935, tiệm quảng cáo: “Không hề lên giá như các hàng sách khác mà lại lựa ròng những sách quốc văn có giá trị để cống hiến cho các bạn thanh niên muốn khảo cứu và luyện tập quốc văn”. Ở đây có bán các cuốn sách có giá trị như Hán Việt thành ngữ (Dictionnaire Sino Annamite) của Bửu Cân, Hán Việt tự điển của Đào Duy Anh với mỗi từ vựng hay giải thích trong các cuốn tự điển này đều có chú thích Pháp văn, giá 3,2 đ.

Ngoài ra là các cuốn khác như Chữ Tàu tiếng Nam, Diễm Dương Trang, Hồng Lâu Mộng, Cậu Tám Lọ, Mảnh trăng thu, Một đêm trước, Thế giới sử, Văn đàn bảo giám bộ 3 cuốn, Kép Tư Bền, Nữ lưu văn học sử, Sào Nam văn tập... Tiệm sách này cũng có bán sách của nhóm Tự Lực Văn đoàn, sách thuốc của Nhựt Nam thư quán, Nam Ký, Đông Tây…

Sau 1954, khắp Sài Gòn rộ lên các nhà sách cho dù các dãy sạp bán sách cũ giá rẻ vẫn tồn tại song song phía bên lề đường Lê Lợi gần nhà thương Sài Gòn. Nhà sách Khai Trí lớn nhất, còn có nhiều nhà sách khác như nhà sách Khai Tâm bán sách báo và dụng cụ văn phòng số 123 Tự Do, nhà sách Lê Phan số 41 Phạm Ngũ Lão, nhà sách Phương Anh số 303 Hai Bà Trưng, nhà sách Sài Gòn số 28A Lê Lợi, nhà sách Thanh Tuân số 56, nhà sách Văn Hữu 28C, nhà sách Liên Châu số 3 Công trường Hòa Bình (chủ yếu bán sách giáo khoa cho các trường dạy theo chương trình Pháp), nhà sách Vĩnh Bảo 66 ter (trước ở 46 bis Gia Long), nhà sách Xuân Thu 185 -193B Tự Do, Yiễm Yiễm thư trang số 113-115 Nguyễn Thái Học, nhà sách Tự Lực 92, nhà sách Tinh Hoa số 51 Trần Hưng Đạo.




Quảng cáo Yiễm Yiễm thư trang của nhà thơ Đông Hồ. Tư liệu: PCL


Còn trong Chợ Lớn có nhà sách Hồng Dân của ông Lê Ngọc Anh số 254 Khổng Tử (Hải Thượng Lãn Ông), nhà sách Sy-tai của ông Dương Kỳ Phước số 162 Phùng Hưng, nhà sách Mỹ Khoan 17 Trần Điện.

Nhà sách ở Sài Gòn cách nay hơn nửa thế kỷ tập trung nhiều ở khu trung tâm Sài Gòn. Ở các vùng ngoại vi như Phú Nhuận, Ông Tạ, Bà Chiểu... cư dân cũ kể rằng ban đầu không có mấy nhà sách, trừ vài tiệm bán sách giáo khoa cùng đồ văn phòng.

Cho đến cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, phong trào mở tiệm thuê sách nở rộ ở nhiều khu vực, phù hợp sở thích của dân đọc sách đa số không có nhiều tiền mua sách. Một số nhà sách vẫn duy trì bán sách, nhất là sách giáo khoa và sách vở bút mực nhưng đặt thêm những kệ sách cho thuê. Dần dà, các tiệm bán sách ít đi, nhường chỗ cho sự thịnh hành của các tiệm cho thuê mướn sách về đọc.

                                                                            Phạm Công Luận

(Trích sách “Sài Gòn ngoảnh lại trăm năm”. Công ty Phan book xuất bản 2021)

 

  Tết Sài Gòn trăm năm trước ra sao?   Biết những gì xảy ra trong quá khứ xa xưa dường như là mơ ước muôn đời của con người. Bởi trong c...