NGÀY ẤY VÀ BÂY GIỜ
1681. Căn nhà số 244-252 Phan Đình Phùng ngày xưa và giờ đây
NGÀY ẤY VÀ BÂY GIỜ
1681. Căn nhà số 244-252 Phan Đình Phùng ngày xưa và giờ đây
Những nhà sách xưa
Nhà sách ở Sài Gòn cách nay hơn nửa thế kỷ tập trung nhiều ở khu
trung tâm Sài Gòn. Ở các vùng ngoại vi như Phú Nhuận, Ông Tạ, Bà Chiểu... cư
dân cũ kể rằng ban đầu không có mấy nhà sách, trừ vài tiệm bán sách giáo khoa
cùng đồ văn phòng.
“Tây in sách, Việt Nam chứa sách, Tàu phổ biến sách”, có câu nói
trong giới viết lách thời xưa, mà nhà văn Thế Phong nhắc lại trong cuốn
"Nhà văn tác phẩm cuộc đời" (NXB Đại Ngã, 1970).
Câu này ắt được nói đến từ thời Pháp thuộc, khi công nghệ in ấn
ban đầu trong tay người Pháp. Các nhà xuất bản người Việt in sách xong đưa vào
kho nhưng phát hành ra công chúng phải theo hệ thống của người Hoa trong Chợ
Lớn, có mạng lưới buôn bán rộng khắp và giỏi kinh doanh.
Ở câu chuyện này, khi bán sách in ronéo cho một ông chủ nhà thầu
sách người Hoa, nhà văn Thế Phong nhận xét: “Ông này rất khôn ngoan, biết sách
hay. Những cuốn như "Nhà văn hậu chiến" hay "Nhà văn tiền
chiến" ông bán rất đắt. Cuốn sách ba chục, ông bán gấp đôi. Ông còn bán
sách Tây hiếm với giá rất cao”.
Nhà sách Tinh Hoa trên đường Trần Hưng Đạo, quận 1, của nhạc sĩ
Lê Mộng Bảo. Tư liệu gia đình của HS. Lê Mộng Lâm
Chuyện người Hoa Chợ Lớn bán sách tiếng Việt còn được được nhắc
lại trong cuốn sách khá thú vị của nhà văn Nguyễn Công Hoan, hồi ký "Nhớ
và ghi về Hà Nội". Thời Pháp thuộc, ông Vũ Đình Long, chủ nhà xuất bản Tân
Dân thường xuyên gửi sách của nhà xuất bản vô Nam để bán, và bán rất chạy. Ông
Hoan kể, một lần vào Nam, buổi sáng ông đến nhà Đỗ Phương Quế là tổng đại lý
sách Bắc ở Chợ Lớn để xem bán sách.
Ở đó, ông thấy một người vào nhà sách hỏi hôm nay có sách ngoài
Bắc vào chưa? Chủ hiệu đáp có. Khách bảo chủ tiệm bán. Chủ tiệm lấy tất cả các
sách mới nhận được, gói vào một gói rồi đưa khách. Khách hỏi giá rồi xỉa tiền
ra trả, không cần biết trong gói có những sách gì tác giả nào. Nguyễn Công Hoan
than: “Thấy kiểu mua sách ấy, mình ngán quá!”.
Đọc đoạn văn này, ta thông cảm với sự nhạy cảm của nhà văn,
nhưng mặt khác có thể nghĩ rằng người mua sách có thể là một đại lý con của
tổng đại lý bán sách từ Bắc vào, họ mua về để tiếp tục bán lẻ cho khách chuộng
sách của các nhà văn miền Bắc nên không nhất thiết phải xem sách trước. Hoặc có
khi khách chỉ là người đi giao nhận cho chủ tiệm sách nào đó ở Sài Gòn.
Nhà sách Đỗ Phương Quế không chỉ bán mà còn xuất bản sách, có
những cuốn có giá trị như cuốn "Việt Nam Tây thuộc sử" của Đào Trinh
Nhất (xuất bản 1937 ở Chợ Lớn), "Nỗi lòng Đồ Chiểu" của Phan Văn Hùm
(xuất bản 1938) và "Biện chứng pháp phổ thông" cũng của Phan Văn Hùm.
Nguyễn Công Hoan kể sau đó nhà sách này và ông Vũ Đình Long có
mâu thuẫn với nhau: “Nhà này (Đỗ Phương Quế), trước thì rất sòng phẳng, nhưng
sau, thì mỗi số Tiểu thuyết thứ bảy, dù bán hết, cũng nói là chưa bán hết, còn
đọng một ít. Nhà xuất bản không muốn lấy báo ế vì sợ tốn tiền đài tải. Và những
số báo ế, cứ gửi ở đại lý, có khi dần dần vẫn bán được.
Nhà Đỗ Phương Quế cho là nhà Tân Dân ở xa, không thể kiểm soát
được, nên làm lối ấy mấy năm trời, để được món tiền khá lớn.
Nhưng đến khi nhà Tân Dân biết, nên không cho Đỗ Phương Quế làm
tổng phát hành nữa. Người anh em rể của Vũ Đình Long là Nguyễn Khắc Đàm mới vào
Sài Gòn, mở hiệu bán sách, làm tổng phát hành cho nhà xuất bản Tân Dân”.
Câu chuyện nhận sách bán, khai thấp hơn số lượng bán ra để trả
tiền ít hơn, chiếm dụng vốn cho đến giờ vẫn còn tồn tại.
Trong cuốn "Sài Gòn, chuyện đời của phố" tập 1, được
sự giúp đỡ của gia đình ông Nguyễn Khánh Đàm ở Hà Nội, tôi có bài viết về nhà
sách của ông trên đường Sabourain (Lưu Văn Lang ngày nay) ở trung tâm thành phố.
Nhà sách chỉ tồn tại trong sáu năm (1939-1945), nhưng có ý nghĩa trong đời sống
văn hóa Sài Gòn cho đến giờ vì góp phần quan trọng giúp độc giả miền Nam đọc
được văn chương miền Bắc xa xôi đang phát triển mạnh.
Nhà sách đã tổ chức cuộc triển lãm Báo chí Việt Nam lần đầu tiên
vào năm 1943, giúp người đọc cả nước biết đến nền báo chí non trẻ của nước
Việt. Ở thời đó, nhà sách đã được trưng bày rất hiện đại, chuyên nghiệp, có
nhiều tủ kệ ngăn nắp và có tủ kính đặt giữa nhà sách bày những ấn phẩm đặc
biệt.
Năm 1944, ông Nguyễn Khánh Đàm lên Đà Lạt mở thêm hiệu sách thứ
hai. Nhà sách Nguyễn Khánh Đàm ở Sài Gòn tồn tại đến năm 1945 thì ngưng hoạt
động và có lẽ nhà sách trên Đà Lạt cũng chịu chung số phận.
Cùng khoảng thời gian này, có tiệm sách Thanh Thanh khá có tiếng ở số 120 de la Somme (Hàm Nghi), cũng chuyên bày bán các loại sách từ miền Trung và miền Bắc đưa vào, thiên về sách học thuật bên cạnh các tiểu thuyết.
Quảng cáo nhà sách Vĩnh Bảo. Tư liệu: PCL
Trên báo Tân Văn ra năm 1935, tiệm quảng cáo: “Không hề lên giá
như các hàng sách khác mà lại lựa ròng những sách quốc văn có giá trị để cống
hiến cho các bạn thanh niên muốn khảo cứu và luyện tập quốc văn”. Ở đây có bán
các cuốn sách có giá trị như Hán Việt thành ngữ (Dictionnaire Sino Annamite)
của Bửu Cân, Hán Việt tự điển của Đào Duy Anh với mỗi từ vựng hay giải thích
trong các cuốn tự điển này đều có chú thích Pháp văn, giá 3,2 đ.
Ngoài ra là các cuốn khác như Chữ Tàu tiếng Nam, Diễm
Dương Trang, Hồng Lâu Mộng, Cậu Tám Lọ, Mảnh trăng thu, Một đêm trước, Thế giới
sử, Văn đàn bảo giám bộ 3 cuốn, Kép Tư Bền, Nữ lưu văn học sử, Sào Nam văn
tập... Tiệm sách này cũng có bán sách của nhóm Tự Lực Văn đoàn, sách
thuốc của Nhựt Nam thư quán, Nam Ký, Đông Tây…
Sau 1954, khắp Sài Gòn rộ lên các nhà sách cho dù các dãy sạp
bán sách cũ giá rẻ vẫn tồn tại song song phía bên lề đường Lê Lợi gần nhà
thương Sài Gòn. Nhà sách Khai Trí lớn nhất, còn có nhiều nhà sách khác như nhà
sách Khai Tâm bán sách báo và dụng cụ văn phòng số 123 Tự Do, nhà sách Lê Phan
số 41 Phạm Ngũ Lão, nhà sách Phương Anh số 303 Hai Bà Trưng, nhà sách Sài Gòn
số 28A Lê Lợi, nhà sách Thanh Tuân số 56, nhà sách Văn Hữu 28C, nhà sách Liên
Châu số 3 Công trường Hòa Bình (chủ yếu bán sách giáo khoa cho các trường dạy
theo chương trình Pháp), nhà sách Vĩnh Bảo 66 ter (trước ở 46 bis Gia Long),
nhà sách Xuân Thu 185 -193B Tự Do, Yiễm Yiễm thư trang số 113-115 Nguyễn Thái
Học, nhà sách Tự Lực 92, nhà sách Tinh Hoa số 51 Trần Hưng Đạo.
Quảng cáo Yiễm Yiễm thư trang của nhà thơ Đông Hồ. Tư liệu: PCL
Còn trong Chợ Lớn có nhà sách Hồng Dân của ông Lê Ngọc Anh số
254 Khổng Tử (Hải Thượng Lãn Ông), nhà sách Sy-tai của ông Dương Kỳ Phước số
162 Phùng Hưng, nhà sách Mỹ Khoan 17 Trần Điện.
Nhà sách ở Sài Gòn cách nay hơn nửa thế kỷ tập trung nhiều ở khu
trung tâm Sài Gòn. Ở các vùng ngoại vi như Phú Nhuận, Ông Tạ, Bà Chiểu... cư
dân cũ kể rằng ban đầu không có mấy nhà sách, trừ vài tiệm bán sách giáo khoa
cùng đồ văn phòng.
Cho đến cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, phong trào mở
tiệm thuê sách nở rộ ở nhiều khu vực, phù hợp sở thích của dân đọc sách đa số
không có nhiều tiền mua sách. Một số nhà sách vẫn duy trì bán sách, nhất là
sách giáo khoa và sách vở bút mực nhưng đặt thêm những kệ sách cho thuê. Dần
dà, các tiệm bán sách ít đi, nhường chỗ cho sự thịnh hành của các tiệm cho thuê
mướn sách về đọc.
Phạm Công Luận
(Trích sách “Sài Gòn ngoảnh lại trăm năm”. Công ty Phan book
xuất bản 2021)
Nguồn: https://nguoidothi.net.vn/nhung-nha-sach-xua-33863.html
Chợ Bến Thành được xây dựng vào thời thuộc địa với cái tên là Marché
cen tral (chợ trung tâm) nhưng vì sao nó lại mang cái tên Việt Nam là Bến
Thanh. Đó là vì chợ mới này được di dời từ khu chợ cũ có tên là Bến Thành bên
kinh Charner (đại lộ Charner/Nguyễn Huệ về sau). Từ khi thành lập tới nay, chợ
Bến Thành trải qua biết bao biến động mà biến động đáng nhớ là vào tháng 9 năm
1945 và năm 1950. Các bạn truy cập vào đường link dưới đây để xam video về cảnh
chợ Bến Thành bị đốt phá. Trang web này không cho tải video.
https://imagesdefense.gouv.fr/fr/emeute-a-saigon.html
Chợ Bến Thành thời tao loạn
Được xây dựng từ 1912, đến nay ngôi chợ Bến Thành đã trải qua
110 năm tồn tại và phục vụ cho bao lớp cư dân Sài Gòn và các tỉnh đến buôn bán,
mua sắm, ăn uống… và cũng có những lúc thăng trầm.
Ba của tôi làm nhân viên tiệm buôn Kim Phát ở số 301-303 cửa Tây
chợ Sài Gòn (tên gọi phổ biến của chợ Bến Thành lúc đó) từ năm 1953 đến năm
1978 mới nghỉ. Ông thường kể về không khí chợ suốt thời gian ông làm việc ở đó,
với sự linh hoạt buôn bán của người Hoa ở các tiệm lớn và sự đon đả của các bà
các cô buôn bán các sạp trong chợ. Ông chứng kiến không khí làm ăn ở chợ khá
thịnh vượng suốt phần tư thế kỷ.
Những ngày Tết là khoảng thời gian vui nhất. Sau buổi bán chiều,
chỉ cần đi rảo một vòng là thấy có không khí Tết vì người mua kẻ sắm rần rần.
Quanh quẩn ở đó thôi vẫn có thể tìm mua được nhiều món đặc sản loại ngon nhất
miền Nam để nhâm nhi ngày Tết như khô cá thiều Phú Quốc, khô cá nhái Cao Lãnh,
trái hồng khô ép hay rượu Ngũ gia bì nhập từ Hồng Kông mà không cần vô Chợ Lớn.
Không có chợ nào có không khí Tết vui như chợ Bến Thành, ngôi
chợ lớn nhất miền Nam.
Bác Nguyễn Cương Phú, đang sống ở nước Úc hứng thú khi đọc bài
viết của tôi về thời gian ba tôi làm việc trong ngôi chợ nổi tiếng này. Bác kể
thêm vài câu chuyện không còn mấy ai biết về ngôi chợ này hồi thập niên 1940,
khi bác chỉ gần mười tuổi. Đầu thập niên đó, mẹ của bác Phú có một tiệm bán
giày guốc dép lớn ở ngay cửa Đông (nhìn ra đường Phan Bội Châu hiện nay). Cả
gia đình sống rất khá giả nhờ tiệm này khi có tới tám người giúp việc. Đó là cơ
ngơi đáng kể của bà từ khi rời miền Bắc vào Nam thập niên 1930.
Bác Phú nhớ lại cấu trúc của chợ: chung quanh là các cửa hàng
bán quần áo, giày dép, đồng hồ đeo tay và trang trí, các loại sản phẩm bằng da.
Phía cửa Bắc (nhìn ra đường Espagne tức Lê Thánh Tôn ngày nay), ngoài vỉa hè là
dãy bán trái cây tươi, xanh. Các loại trái cây trong và ngoài nước đều được bày
bán suốt dọc lề đường thuộc khuôn viên chợ như lê, táo, nho tươi, chuối, mãng
cầu v.v..
Các tiểu thương ngồi trong phần gian hàng của mình rất nhỏ, gọn.
Có một nhà vệ sinh công cộng khá lớn ở đường này có phân chia nam nữ hai bên,
có dùng tay nắm giật nước (thời đó rất ít nhà có), rất tiện cho khách đi chợ và
người bán trong chợ. Kéo dài từ đường Espagne qua khỏi ngã tư giáp đường
Schroeder (nay là Phan Chu Trinh) là những xe của người Hoa bán hủ tíu mì, đồ
ăn nhẹ và cơm trưa cho khách vãng lai và tiểu thương, tối thì bán đủ thứ chè
ngọt.
Trong chợ gọi là “nhà lồng”, được chia thành từng khu: khu bán
cá khá rộng có sàn cao hơn mặt bằng hai ba tấc, có phông tên nước để bơm cho cá
sống bơi lội trong bồn và tẩy rửa khi làm cá cho khách hàng. Những chậu để “rộng”
cá hình tròn, cao hai tấc hay hai tấc rưỡi, đường kính tới hơn cả mét. Có khu
bán thịt heo, bò. Khu bán hàng rau còn gọi là khu bán đồ rau củ quả. Khu bán
hàng xén có rổ rá, nồi, mẹt và đồ thủ công.
Việc buôn bán ở chợ Bến Thành vẫn ổn định cả khi quân đội Nhật
vô Việt Nam. Gian hàng bán giày dép của gia đình bác Phú vẫn có khách Tây và
khách Nhật đến mua bán, mà khách Nhật chủ yếu là những người lính. Rồi người
Nhật lật đổ Pháp, sau đó phi cơ Đồng minh tấn công quân Nhật. Chính quyền thành
phố Sài Gòn hướng dẫn người dân tập luyện cách di tản để tránh bom đạn, biết
cách đến những khu có sẵn hầm trú bom. Lúc đó có những lần báo động cả ngày và
đêm.
Đến một đêm phi cơ Đồng minh bay vô thành phố và thả xuống ba
trái bom gần Xã Tây. Dân chúng Sài Gòn phần lớn tản cư ra khỏi thành phố.
Chợ Bến Thành tạm đóng cửa, ngưng buôn bán khi các sự kiện đó
dồn dập tới. Các tiểu thương trong chợ được thông báo phải di chuyển hết hàng
hóa của mình ra khỏi chợ trong vòng 24 giờ để tổ chức kháng chiến đốt chợ theo
chủ trương “Tiêu thổ kháng chiến”. Chợ bị phóng hỏa, một số chỗ phía ngoài bị
cháy. Bên trong nhà lồng cũng xơ xác.
Khi Pháp trở lại chiếm đóng Sài Gòn, chính quyền yêu cầu các chủ
gian hàng tùy theo diện tích mà đóng góp để phục hồi chợ. Trong khi chuẩn bị
tiến hành phục dựng, chợ hoàn toàn đóng cửa. Các tiểu thương xin phép dựng các
lều trại quanh chợ để buôn bán.
Trước đây, khi chợ hoạt động bình thường, hai bên hông chợ là
hai bến xe đò chạy tuyến miền Đông và miền Tây trên đường Schroeder và Viennot
(Phan Bội Châu). Lúc trùng tu lại chợ, hai bên đường được ngăn lại một phần để
tiểu thương buôn bán, một phần đường vẫn là bến xe cho đến khi chợ được xây
dựng lại. Những ai góp vốn thì được nhận lại diện tích gian hàng của mình để
tiếp tục kinh doanh, ai không có khả năng đóng góp thì phần diện tích đó được
đem đấu giá cho chủ mới.
Gia đình bác Phú vì không chạy kịp khiến gian hàng bị đốt cháy
hết hàng hóa nên không có tiền đóng góp, coi như mất sạch tài sản. Mẹ bác Phú
dựng lên một sạp nhỏ ngay giữa đường Schroeder trước mặt tiệm vàng Nguyễn Thế
Tài để bán guốc cho đến khi giải tỏa con đường.
Chợ Bến Thành (ảnh từ trên xuống) do Eli Lotar (1905 - 1969)
chụp năm 1938. Nguồn: manhhai flickr.
Bác Phú nhớ lại lúc ấy là con nít, thích chạy chơi từ sạp guốc
của mẹ ra bến xe đò đế ngắm các bạn hàng và lơ xe khiêng hàng hóa lên mui. Do
chiến tranh, hầu hết xe hơi đều chuyển sang chạy bằng than. Các bác lơ
đốt than từ sáng sớm, đợi khách đầy xe, hàng hóa đầy mui thì xe mới lăn bánh.
Hồi đó dân tình còn chất phác, không có chuyện lơ xe níu kéo khách, tranh giành
nhau như sau này.
Các xe xếp hàng thứ tự từng chiếc, đợi đủ khách thì khởi hành.
Nói là xe chạy bằng than, chứ thực ra lúc đầu còn có than để chạy, về sau không
còn than thì xe chạy bằng... củi đòn (vì chỉ củi đòn mới có nhiều than và lâu
tàn). Nhờ câu chuyện này, bác Phú biết chắc là từ thập niên 1940 đã có xe chạy
bằng than, do tình trạng chiến tranh mà nghĩ ra, chứ không phải xe than xuất
hiện từ thời bao cấp thập niên 1980.
Mẹ của bác Phú, từ bà chủ một cơ ngơi bề thế ở ngôi chợ lớn nhất
miền Nam đã lụi tàn dần tài sản vì chiến tranh. Cuối cùng, bà rời ngôi chợ thân
yêu để trở về chợ Xã Tài (chợ Phú Nhuận ngày nay) mở một tiệm cơm bình dân bán
cho giới phu phen và người nghèo. Chợ Bến Thành của những năm thịnh vượng đầu
thập niên 1940 với bà kết thúc từ đó.
Phạm Công Luận
Nhà chụp
hình Mỹ Lai đợi cuộc trăm năm
Có
một tiệm ảnh tồn tại từ năm 1936 đến tận ngày nay, trải qua bao biến động vẫn
mở cửa, chỉ làm một nghề là chụp và rửa ảnh trong suốt 86 năm. Đó là tiệm chụp
hình Mỹ Lai.
Trên
đất Sài Gòn, không nhiều cơ sở làm ăn tồn tại trên 70 năm. Nguyên do là từ đầu
thế kỷ XX đến năm 1975, thành phố đã trải qua nhiều lần thay đổi chế độ xã hội.
Chiến tranh đã có những lần lan đến Sài Gòn và đời sống kinh tế có những đợt
khủng hoảng kéo dài.
Tuy
vậy, bất chấp những điều đó, có một tiệm ảnh tồn tại từ năm 1936 đến tận ngày
nay, chỉ làm một nghề là chụp và rửa ảnh trong suốt 86 năm. Tiệm vẫn giữ thương
hiệu suốt bấy nhiêu năm dù có vài lần phải chuyển vị trí. Đó là tiệm chụp hình
Mỹ Lai, đáng được xem là biểu tượng sống của dịch vụ ngành ảnh đất Sài Gòn -
Gia Định.
Anh Đức Vượng, từng là phóng viên ảnh báo Khăn Quàng Đỏ, đang duy trì tiệm ảnh cổ xưa này. Anh là thế hệ thứ ba làm chủ tiệm ảnh của gia đình. Ông nội của anh, ông Nguyễn Hữu Lập từng là chủ hiệu ảnh Minh Tân ở thành phố Nam Định đầu thập niên 1930. Con trai ông Lập, ông Nguyễn Văn Đoàn - cha của anh Đức Vượng - học nghề ảnh của gia đình và sớm có ý định mở tiệm ảnh cho riêng mình.
Quê
hương của họ là làng Lai Xá, nay thuộc Hà Nội, là ngôi làng có truyền thống
theo nghề chụp ảnh và người làng đi tứ xứ mở tiệm ảnh. Từ nghề này có thể tạo
dựng được cuộc sống phong lưu. Niềm tự hào của làng Lai Xá là có được cụ Nguyễn
Đình Khánh, người làng gọi trân trọng là cụ Khánh Ký (từ tên gọi hiệu ảnh của
cụ) truyền nghề cho cả làng. Cụ Khánh Ký có vai trò lớn trong việc tạo dựng
ngành nhiếp ảnh và phát triển rộng ra cả nước, có mối liên quan rất lớn đến
ngành nhiếp ảnh ở Sài Gòn từ thập niên 1930 đến nhiều năm sau này.
Năm
1936, ông Nguyễn Văn Đoàn cùng mẹ ruột và vợ con từ miền Bắc vào Nam. Người
cùng làng gọi ông là ông Viên Đoàn vì cô con cả của ông tên Viên (theo phong
tục Bắc xưa, gọi tên cha có ghép tên con lớn đằng trước). Ban đầu, ông Viên
Đoàn mở tiệm chụp ảnh tại số 369 đường Paul Blanchy (nay là Hai Bà Trưng), gần
chợ Tân Định, lấy tên “Nhà chụp hình Mỹ Lai”. “Mỹ” có nghĩa là mỹ thuật,
là cái đẹp. “Lai” là Lai Xá, tên ngôi làng yêu dấu dạy ông thành nghề.
Sau
một thời gian, ông mở tiếp hiệu ảnh thứ hai và giao tiệm ảnh đầu tiên ở đường
Paul Blanchy cho người em là Nguyễn Văn Đạt. Ông Đạt do hoạt động bí mật in ảnh
cụ Hồ, lộ chuyện nên bị bắt đi tù, tiệm ảnh phải đóng cửa. Ra tù, ông Đạt mở
tiệm ảnh tại Vũng Tàu.
Buổi họp mặt
thành lập Công ty Mỹ Lai.
Tiệm
ảnh thứ hai ông Viên Đoàn mở ở số 48 đường Bonard (Lê Lợi). Đến đây, ông đã
thỏa ước mơ có tiệm ảnh ở khu trung tâm. Tiệm ảnh của ông, lúc đó gọi là “Mỹ
Lai ảnh viện” cùng tên Tây là “Mỹ Lai Photo” nằm giữa đường Pasteur và đường
Mac Mahon (Nam Kỳ Khởi Nghĩa). Mở tiệm ở đó, ông dễ dàng gặp được nhiều đồng
hương miền Bắc vì ai vào Nam cũng phải ra đường này dạo chơi, ngắm Nhà hát Tây
và Thương xá Tax.
Chú
bé Đức Vượng là một trong các con trai của ông chủ tiệm ảnh Mỹ Lai. Anh sống ở
khu trung tâm này cho đến khi tiệm ảnh dời đi năm 1973 và có một thời tuổi trẻ
ở con đường vui nhất Sài Gòn, con đường mà nhiều người tứ xứ mơ sẽ có lần đi
dạo quanh. Làm ảnh cùng với cha từ nhỏ, anh Vượng hiểu nhiều về các kỹ thuật
chụp và làm ảnh thủ công.
Thời trước, giấy ảnh nhập về có mấy loại: giấy nhung (sần nhẹ), giấy soil với mặt giấy sần hạt chấm còn được gọi là giấy lụa thường dùng làm ảnh chân dung loại lớn, giấy mat (mặt lì) và giấy láng. Trước khi người Mỹ vào Việt Nam, người ta dùng nhiều giấy ảnh nhung nhưng sau đó là phong trào dùng giấy láng thịnh hành vì bóng bẩy hơn, nhìn ảnh sâu hơn. Giấy làm ảnh vốn không bóng láng. Để có bề mặt ảnh bóng láng, giấy ảnh phải được ép vào kính, sau đó qua các bước xử lý theo bí quyết riêng.
Ông Nguyễn Hữu
Lập, thân phụ của ông Nguyễn Văn Đoàn, nhân một chuyến vào Sài Gòn thăm con
cháu năm 1937 ngồi sửa phim tại tiệm ảnh Mỹ Lai - Tân Định.
Đến
thời người Mỹ vào, giới nhập cảng đưa về thiết bị làm láng giấy ảnh là một tấm
plaque bằng nhôm mạ niken. Ảnh được ngâm trong một dung môi như dầu để khi áp
hình vào mặt phẳng tấm kim loại sẽ không dính lại, tăng độ bóng. Hình sau khi
sắp trên mặt tấm plaque, được ép chặt vào thiết bị rồi dùng trục lăn, lăn cho
ra hết nước mới bỏ vào máy sấy. Từ khi có máy làm láng, nhiều tiệm ảnh ở Sài
Gòn trang bị thêm để dùng cùng với loại kính truyền thống. Lý do là tấm kính
làm láng đẹp hơn lại có khổ to trong khi máy làm láng chỉ có khổ nhỏ. Những
tiệm ảnh rửa hàng loạt cả ngàn tấm thì dùng máy làm láng tiện hơn vì rất nhanh.
Về phim để chụp ảnh, ông Viên Đoàn hay kể cho các con nghe là từ thập niên 1930 đến 1950 dùng phim bằng kính của hãng Lumière và phim nhựa của Hãng Guilleminot. Thập niên 1960 các Hãng Agfa Gevaert, Sakura, Fuji thay dần các thương hiệu trước đó. Trước khi người Mỹ vào, chỉ có ảnh đen trắng, ai thích màu thì nhờ thợ tô màu lên ảnh. Phim màu, hãng Kodak thống trị từ khoảng 1966. Ông thường mua phim ảnh của ông Lâm Thao, một công ty người Hoa chuyên nhập vật tư ngành ảnh
.
Nhà chụp hình
Mỹ Lai - Tân Định năm 1936.
Có
lúc, ông Viên Đoàn cùng mấy người đồng hương, đồng nghiệp lập riêng một công ty
để nhập trực tiếp vật tư về nhưng cuối cùng không theo đuổi mà tiếp tục hành
nghề chụp ảnh vì khá ổn định. Hai bên tiệm ảnh Mỹ Lai có hai tiệm uốn tóc Mimi
và Mô-đéc, thường có khách đông, nhất là vào cuối tuần. Nhiều cô sau khi đến
hai tiệm này làm tóc xong thế nào cũng sang chụp vài pô ảnh bộ tóc mới của
mình. Khách đi dạo cuối tuần, vô Thương xá Tax hay mua sắm quanh đó cũng thường
đến chụp ảnh ở đây...
Năm
1973, tiệm đang làm ăn thuận lợi thì do sức ép tài chánh nên phải sang tiệm.
Ông Viên Đoàn tìm về ngã tư Phú Nhuận, mua một căn nhà mặt tiền và tiếp tục mở
tiệm làm ảnh. Căn nhà nằm trên đường Võ Di Nguy (Phan Đình Phùng), sát vách
trường Trung học tư thục Chu Mạnh Trinh. Ngã tư Phú Nhuận lúc đó không quá đông
như hiện nay, đoạn đường Võ Di Nguy nối dài (Nguyễn Kiệm) đi lên Gò Vấp còn
vắng vẻ. Về đây, sau một năm sửa chữa lại căn nhà mới trương bảng “Ảnh viện Mỹ
Lai”. Nhưng chỉ vài tháng thì đến ngày 30.4.1975.
Sau
ngày đất nước thống nhất, gia đình ông Viên Đoàn đối mặt với nhiều khó khăn, có
lúc suýt bị trưng dụng cửa hàng theo chính sách ngành nghề thời đó. Vật tư nghề
ảnh khan hiếm dần, phải dùng giấy phim từ các nước Đông Đức, Liên Xô, Hungary…
như Foto 65, ORWO do thủy thủ viễn dương mang về, chất lượng tốt nhưng số lượng
và chủng loại không ổn định.
Chuyện
đáng nhớ ở giai đoạn đó là tiệm tiếp khá nhiều anh bộ đội vào chụp ảnh để gửi
về Bắc. Nhiều người ở Sài Gòn tuy sống khó khăn nhưng vẫn cố gắng duy trì thói
quen chụp ảnh cả nhà trong ngày Tết. Thỉnh thoảng, anh Vượng nhận rửa phim hay
phục hồi ảnh cũ, trong đó có khi là ảnh cả nhà đã mất khi… vượt biên.
Anh Đức Vượng
tiếp nối cha duy trì tiệm ảnh Mỹ Lai ở ngã tư Phú Nhuận.
Năm 1978, ông Viên Đoàn từ trần trên đất
Sài Gòn nay đã thành quê hương mới của ông. Anh Đức Vượng từ giã nghề phóng
viên ảnh, thay cha quản lý tiệm ảnh Mỹ Lai. Sau này với sự phát triển ảnh màu
tự động và công nghệ kỹ thuật số, Mỹ Lai cùng với một số tiệm ảnh màu ở thành
phố tham gia sản xuất ảnh màu bằng máy với công nghệ Nhật Bản.
Đến
nay, tuy mọi người đã có thể chụp ảnh qua điện thoại, tiệm Mỹ Lai vẫn tiếp tục
làm dịch vụ chụp và làm ảnh cho khách như lâu nay, cho dù thời thịnh vượng của
nghề ảnh nói chung đã qua. Anh Đức Vượng hy vọng có thể duy trì tiệm ảnh thân
thương của cha anh để lại cho đến kỷ niệm một trăm năm “Nhà chụp hình Mỹ Lai”
vào năm 2036.
Phạm
Công Luận
Nguồn: https://nguoidothi.net.vn/nha-chup-hinh-my-lai-doi-cuoc-tram-nam-33426.html
Nhớ về
Saigon Departo
Cùng với siêu thị Nguyễn Du và thương xá
Tax, Saigon Departo tạo nên bộ mặt thương nghiệp hiện đại của Sài Gòn cách nay
gần nửa thế kỷ…
Trên báo Xuân Chính Luận năm 1969, bài
phóng sự của H. Thủy “Ba bộ mặt của Tết Sài Gòn” có viết: “Đi đến đường Tự Do
mà không ghé Sài Gòn Departo thật là một thiếu sót. Trong dịp Tết đến, Sài Gòn
Departo được huy động toàn lực để… vét túi khách hàng giàu sang. Dân nghèo mà
vô đây thì đúng là cảnh chim chích lạc vào rừng. Các món nữ trang, mỹ phẩm đến
các đồ tiểu thủ công nghệ chẳng hạn như đèn trang hoàng, giá cũng phải ba bốn
chục ngàn một món. Dân nghèo sức mấy mà sờ vào đó.
…Ít người tay xách nách mang vì có xe hơi
bên cạnh, mua gì là họ gọi tài xế tống ngay lên đó chở về nhà…”
Sài Gòn thời cuối thập niên 1960, ai mà
không biết Sài Gòn Departo là bị chê “quê một cục”. Nhiều người nhất là giới
phụ nữ cố gắng đến đó để xem ít nhất một lần cho biết, nhân tiện ghé cửa hàng
thực phẩm Pháp gần đó mua bơ mặn Bretel hay cá mòi Sumaco, nước tương Maggi ăn
với bánh mì ốp la cho bữa điểm tâm.
Saigon Departo
bên trái. Ảnh: TL
Sự hiện diện của loại hình Trung tâm bách
hóa tổng hợp ở Việt Nam có bề dày không nhiều, mặc dù trung tâm bách hóa tổng
hợp của nước Mỹ đã có từ năm 1800, tức hơn một trăm năm mươi năm trước tính đến
lúc đó.
Loại hình buôn bán tổng hợp đủ các loại
mặt hàng trong cửa tiệm lớn do người Pháp lập nên, nổi tiếng nhất miền Bắc là
Gô-đa (tiếng Pháp là Godard) sang trọng bậc nhất thời Pháp thuộc, nay là Plaza
Tràng Tiền. Còn ở miền Nam, đó là thương xá Tax. Tòa nhà bách hóa tổng hợp này
có lịch sử lâu đời, được bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ 19, lúc đầu mang
tên Les Grands Magazins Charner (GMC).
Năm 1967, song song với việc thành lập
siêu thị đầu tiên ở miền Nam và chắc là của cả nước, một trung tâm bách hóa
tổng hợp đã được mở ra ở Sài Gòn, cạnh tranh thu hút khách với thương xá Tax.
Điều cần lưu ý là trung tâm buôn bán này được vận hàng khá bài bản, hiện đại
không khác mấy hoạt động của các trung tâm bách hóa tổng hợp hiện nay. Đó là
Trung tâm bách hóa Saigon Departo, thiết lập tại đường Tự Do, quận Nhứt (nay là
đường Đồng Khởi), trực thuộc Công ty Sài Gòn đại bách hóa thương xã thời đó.
Quạt và đồ sơn
mài, bình gốm sứ.
Ảnh minh họa
đăng trên báo Thế Giới Tự do
Departo là cái tên do người Nhật đặt ra,
tương tự như Department store của Mỹ, Anh nhưng quy mô nhỏ hơn. Saigon departo
mượn cái tên này nói lên tính chất và quy mô của trung tâm. Như tất cả các
trung tâm bách hóa, người dân đến đây có thể mua đủ loại vật dụng cho gia đình,
đồ dùng hàng ngày, trong bếp, trong văn phòng, vải vóc quần áo, đồ dùng đi du
lịch.v.v… mà không phải đi đâu xa.
Xuất hiện không lâu, cái tên Departo ở
Sài Gòn đã mang ý nghĩa sành điệu. Không chỉ vì có bán nhiều đồ cao cấp,
Departo thu hút khách hàng vì cách bày trí hàng hóa tiện lợi và đẹp mắt, phong
cách phục vụ mới mẻ như một làn gió mới thổi vào đời sống của người Sài Gòn
thập niên 1960.
Việc đào tạo nhân viên ở đây tiến hành
khá bài bản trong điều kiện đang có chiến tranh là điều ít ai ngờ tới. Trước
ngày 16.7.1967 là ngày chính thức mở cửa, ban giám đốc trung tâm này dành thời
gian hơn nửa năm đi nghiên cứu thị trường, nghiên cứu các sản phẩm có thể kinh
doanh. Họ lập một đoàn sang Nhật Bản, Hồng Kông và vài quốc gia châu Âu để học
hỏi kinh nghiệm.
Sau đó, việc tuyển chọn nhân viên được
tiến hành. Hơn 60 thiếu nữ bán hàng được tuyển dụng từ cuối năm 1966, có trình
độ học thức khá, nói được tiếng Anh, Pháp và trình độ trung học.
Họ được ông Trần Thiện Ân, người của Bộ
Kinh tế chính quyền Sài Gòn đào tạo trực tiếp. Ông Ân từng tốt nghiệp chuyên
ngành Department store tại Mỹ, từng thực tập tại trung tâm bách hóa R.H. Macy
tại New York bốn năm nên nhiều kinh nghiệm và bài bản. Ông huấn luyện nhân viên
từ lý thuyết đến thực hành về cách giao dịch và cử chỉ niềm nở với khách, cách
bán hàng, gói hàng, giới thiệu hàng.
Các loại búp
bê nhập từ Nhật, được ưa chuộng là búp bê nhắm mắt mở mắt. Ảnh
minh họa đăng trên báo Thế Giới Tự do
Tuy chỉ có hai tầng, trệt và lầu chiếm
1500 mét vuông, trung tâm có đủ các khu vực bán hàng: khu vật dụng trong nhà,
khu mỹ phẩm và đồ mỹ nghệ, thực phẩm công nghiệp như đồ hộp. Lầu hai bán vải
vóc, quần áo trẻ em may sẵn, máy thu thanh, máy vô tuyến truyền hình, đồ điện.
Tầng này có khu giải trí cho trẻ em và khu vực giải khát có máy phát phim ca
nhạc sử dụng đồng jeton bỏ vào lỗ để chọn phim.
Hàng hóa ở đây chiếm tới 70% hàng nước
ngoài và có 30% hàng trong nước. Với cơ cấu hàng hóa đó, khách mua hàng là giới
khá giả ở Sài Gòn và người nước ngoài. Các dịp lễ tết, cửa hàng rất đông khách.
Cùng với siêu thị Nguyễn Du và thương xá
Tax, Saigon Departo tạo nên bộ măt thương nghiệp hiện đại của Sài Gòn cách nay
gần nửa thế kỷ, sớm thúc đẩy nền thương nghiệp mang tính cạnh tranh của người
Sài Gòn và giúp dân chúng quen với mô hình buôn bán hiện đại, tiện dụng của thế
giới trong điều kiện chiến tranh không dễ dàng ra nước ngoài đi du lịch tìm hiểu
cuộc sống quốc tế.
Phạm Công Luận
(trích sách “Sài Gòn, chuyện đời của phố”
tập 3; Công ty sách Phương Nam xuất bản)
Nguo62nL https://nguoidothi.net.vn/nho-ve-saigon-departo-33447.html
Tết Sài Gòn trăm năm trước ra sao? Biết những gì xảy ra trong quá khứ xa xưa dường như là mơ ước muôn đời của con người. Bởi trong c...