Thứ Ba, 9 tháng 5, 2017

Bài này được trích dịch từ chuyên đề GUIDE HISTORIQUE DES RUES DE SAIGON của ANDRÉ BAUDRIT.


LAI LỊCH NHỮNG TÊN ĐƯỜNG ĐẦU TIÊN
CỦA THÀNH PHỐ SÀI GÒN

(Phần tiếp theo)



BARBIER. Liên kết đường Mayer và đường Vassoigne (khu Tân Định)
Lúc trước nó là đường số 38. Đáng lẽ tên của nó là đường  Rodellec-Duporzic nhưng vì cái tên này quá dài để đọc cho nên tên như trên được ưa thích hơn.




Vị trí đường BARBIER trong bản đồ năm 1920



Bản đồ năm 1924



Trong bản đồ năm 1960 là đường Lý Trần Quán


Trong bản đồ hiện tại là Thạch Thị Thanh


Thị trưởng BARBIER xuất hiện rất ít ở Sài Gòn và những thông tin về con người rất hạn chế. Chỉ biết qua thông tin của báo chí về sơ lược tiểu sử: Nam tước  Raoul BARBIER, hiệp sĩ bắc đẫu bội tinh đã cặp cảng Sài Gòn bằng tàu Impératrice thượng tuần tháng 7 năm 1870. Đi theo ông là một người hầu. Ông tuyến bố là “không nghề nghiệp”.
Vào năm 1871, ông xuất hiện trong giới thượng lưu Sài Gòn và coi như là “ thương gia”. Ngày 01 tháng 2 năm 1871, hội đồng thành phố đề cử ông làm thị trưởng thành phố.

BELGIQUE (cảng) nối với cảng Le-Myre-de-Vilers ở ranh giới Sài Gòn và Chợ Lớn dọc thao bên phải kênh Bến Nghé.
Cảng Belgique trước đó gọi là “cảng arroyo Chinois”. Nó lấy tên mới ngày 30 tháng 10 năm 1914.




Bản đồ năm 1878 là cảng cảng arroyo Chinois



Bản đồ năm 1920 đổi tên lại là Belgique


Bản đồ năm 1966 gọi là bến Chương Dương


Belgique Đó là nói về cuộc kháng chiến của Bỉ trước khi cuộc xâm lược của Đức vào năm 1914.


BELLAND – hướng Tây Bắc – Đông Nam kết nối đường Douaumont vào đại lộ Galliéni (cảng abattoir).
Con đường không biết thời gian hình thành và nó mang tên đường số 10. Theo quyết định của toàn quyền ký ngày 23 tháng 1 năm 1943 đặt tên cho nó là Belland.


Bản đồ năm 1943



Bản đồ năm 1958 đổi tên là Đề Thám



Auguste BELLAND (1856-1910).  sinh ở Avesse thuộc tỉnh Brulon (Sarthe) ngày 5 tháng 9 năm 1856. Vào thủy quân lục chiến, tham gia chiến dịch ở Madagascar; sau đó tới Đông Dương, giải ngũ vào ngành cảnh sát thành phố.
Rất quan tâm và say mê cây cao su, ông đã tích lũy vốn và nghiên cứu trồng loại cây này, lập một nhà máy chế biến ở Gia Định.


BERSÉSIO hướng Tây Tây Bắc – Đông Đông Nam. Kết nối con đường Charles-De-Cappe với đường Victor Olivier ở Khánh Hội (khu vực Messageries maritimes).
Con đường này được xây dựng năm 1927 và không có tên đến năm 1929. Trong cuộc họp của hội đồng thành phố ngày 3 tháng 5 năm 1929 nó mới có chính thức cái tên như trên.




Bản đồ năm 1943




Bản đồ năm 1946




Bản đồ năm 1958 đổi tên là Lê Thạch


          BERSESIO Joseph, Barthélémy, Marius sinh ngày 14 tháng 9 năm 1882. Ông làm việc ở Travaux publics de Saigon, thợ làm đường hạng nhất. Ông chết trước 4 ngày khi chấm dứt chiến tranh thế giới, ngày 7 tháng 11 năm 1918.

BERT . Đại lộ Paul.
Kết nối đường Paul-Blanchy với quảng trường Maréchal - Foch (khu vực Đa Kao).
Đại lộ này hơi xa trung tâm một thời gọi là “đại lộ của 2 cầu”. Đại lộ này không bị cắt bởi dòng sông nào cả mà đổ ra hai đường băng ngang có cầu qua kênh 'Avalanche.
Ngày 30 tháng 3 năm 1906, “đại lộ của 2 cầu” thành đại lộ Paul Bert.



Bản đồ năm 1898 ghi là Boulevard des deux ponts



Bản đồ năm 1923 đã đổi tên đường là Paul Bert



Bản đồ năm 1958 đổi tên đường là Trần Quang Khải

Paul BERT  (1833-86) nhà tâm lý và chính trị, sinh ở  Auxerre (Yonne) ngày 17 tháng 10 năm 1833.
Năm 1866, ông bắt đầu sự nghiệp tại vùng thuộc địa. Ông được phong làm tổng công sứ tại Bắc kỳ (ngày 8 tháng 4 năm 1886).



Paul BERT

BLANCHARD Hướng Đông – Tây. Giáp với đường Héraud tới phần đất trống (khu vực Tân Định).
Đường này và một và con đường khác trong cùng khu vực đều được xây dựng năm 1928 bởi Compagnie foncière d'Indochine trên những miếng đất mà họ sở hữu.



Bản đồ năm 1943



Bản đồ năm 1946



Bản đồ năm 1958 đổi tên đường là Trần Quý Khoách


          Paul BLANCHARD cựu giám đốc Douanes et régies ở Cam Bốt, là một trong những người quản lý công ty thuế ruộng đất Đông Dương trong thời gian mà con đường này được xây dựng (1928).


BLANCHY Đường Paul
Đường bắt đầu ở vòng xoay của quảng trường Rigault-de-Genouilly (Trên sông Sài Gòn) và đi đến khu làng ven đô của Phú Nhuận sau khi băng qua thành phố hướng Đông Nam – Tây Bắc.
Con đường Paul-Blanchy và đường Chasseloup-Laubat thẳng góc với nhau – tời lúc bấy giờ - là hai mạch giao thông kết nối thành phố ra bên ngoài. Đó là một trong nhửng đường quan trọng về chiều dài và về giao thông. Vì lý do này, nó được đặt tên trước tiên cho đế quốc Pháp là đường Impériale (hoàng gia). Nhưng năm 1870, để xóa sạch tàn dư của chế độ cũ, nó được đề nghị tên mới là đường République (cộng hòa). Trong khi, nó lại vừa lòng hơn với cái tên tầm thường là đường Nationale. Sau cái chết của Paul-Blanchy (1901) người ta chính thức đặt tên này cho con đường này mà chúng ta đã biết.



Bản đổ năm 1867 ghi là đường Impériale



Bản đổ năm 1879 ghi là đường Nationale



Bản đổ năm 1920 ghi là đường Paul-Blanchy



Bản đổ năm 1958, tên đường đổi lại là đường Hai Bà Trưng

Paul BLANCHY (1837-1901) sinh ở Camblancs gần Bordeaux ngày 14 tháng 10 năm 1837. Ộng đến Nam kỳ năm 1871 với tư cách là nhà trồng trọt. Ông gắn liền với ngọn núi mang tên ông ở tám cây số cách Biên Hòa và lập một trang trại cà phê nhưng không đem lại kết quả mong muốn. Ông trở thành chủ thầu ở Sài Gòn (1873). Nhưng một lần nữa lĩnh vực nông nghiệp hấp dẫn ông, ông tự trồng tiêu tại Hồng Chiêu ở tỉnh Hà Tiên và mua tất cả các loại cây này có trong vùng.
Sau khi an vị tại Sài Gòn, ông bắt đầu tham gia chính trường năm 1873. Ông trở thành thành viên của hội đồng thuộc địa rồi lên chủ tịch năm 1882. Ngày 26 tháng 4 năm 1895, các đồng hương đã bầu ông làm thị trường và ông giữ chức vụ này đến khi mất.


BLANCSUBÉ. Nối quảng trường Maréchal-Joffre tới phía sau vương cung thánh đường.
Con đường ngắn nhưng rất rộng, tạo một tầm nhìn rất thú vị. Khi xưa nó tên là đường Catinat nối dài rồi được đặt tên lại ngày 24 tháng 2 năm 1897.
Năm 1919, đường Blancsubé đáng lẽ thành đường Maréchal-Pétain nhưng kế họach này không thành.



Bản đồ năm 1878 ghi là đường Catinat prolongée


Bản đồ năm 1878 ghi là đường Blancsubé
và phía bên kia đài tưởng niệm là Garcerie


Bản đồ năm 1958 ghi là đường Duy Tân cho cả 2 con đường


Bản đồ hiện tại, tên đường đổi lại là Phạm Ngọc Thạch



          Jules, Marie BLANCSUBÉ (1834-1888). Sinh Gap (Hautes-Alpes), ngày 11 tháng 12 năm 1834, ông làm việc thời gian dài ở Nam kỳ như là luật sư biện hộ ăm 1863. Ông trở thành ủy viện hội đồng thành phố và thị trưởng vào năm 1879.


BOËZ. Hướng Bắc Đông Bắc – Nam Tây Nam. Đường ngắn giáp với đường Bersesio ra đến đường Vincesini ở Khánh Hội (khu  Messageries maritimes).
Khi mới xây dựng khoảng năm 1928, đường này có tên là Frères Denis nhưng vào năm 1930 nó lại đổi tên mới là đường Boëz theo quyết định ngày 10 tháng 9 năm 1930.


Bản đồ năm 1042

Ghi chú: những bản đồ từ năm 1955 đến giờ
 không thấy ghi tên mới của con đường này

Louis BOËZ  (1888-1930) Giám đốc viện Pasteur, sinh ngày 8 tháng 2 năm 1888 ở Maroilles (Nord) và đã học tại đại học Lille.

Ghi chú: Thật đáng tiếc khi hội đồng thành phố lại chọn một con đường đầy sinh lầy nơi cảng để tưởng nhớ nhà bác học này.

Thứ Bảy, 6 tháng 5, 2017

NGÀY ẤY VÀ BÂY GIỜ

                                 1091. Đường Nguyễn Huệ nhìn từ đường Ngô Đức kế xưa và nay.


                                 1092. Đường Phủ Kiệt (Hải Triều) - Võ Di Nguy (Hồ Tùng Mậu) xưa và nay.


                                 1093. Atlas Hotel và nhà may 007 góc Lê Thánh Tôn - Tự Do xưa và nay.


                                 1094. Đường Hai Bà Trưng phía sau công trường Lam Sơn xưa và nay.


                                 1095. Giao lộ Trương công Định (Trương Định) - Lê Lai  xưa và nay.


                                 1096. Tòa nhà số 213 Tự Do ngày xưa không còn nữa.


                                 1097. Giao lộ các đường Tổng đốc Phương (Châu văn Liêm) - Hồng Bàng - Thuận Kiều  xưa và nay.


                                 1098. Giao lộ Hồng Bàng (An Dương Vương) - Nguyễn Duy Dương xưa và nay.


                                 1099. Nhà hàng Mỹ Tâm đường Tự Do xưa giờ là Maxim's Club.


                                 1100. Ngả tư Nguyễn Thiệp - Nguyễn Huệ xưa và nay.


Nguồn tim Doling, Trung Ngo

Thứ Sáu, 5 tháng 5, 2017

Bài này được trích dịch từ chuyên đề GUIDE HISTORIQUE DES RUES DE SAIGON của ANDRÉ BAUDRIT.


LAI LỊCH NHỮNG TÊN ĐƯỜNG ĐẦU TIÊN
CỦA THÀNH PHỐ SÀI GÒN

(Phần tiếp theo)



ASCOLI – Bắc Đông Bắc – Nam Đông Nam. Đây là một trong những con đường cuối cùng của cảng. Nó nối đường Jean-Eudel với cảng Yser (sông sài Gòn).
Đường trước đó không tên. Vào năm 1930 nó mới có tên như trên trong bản đề nghị của hội đồng thành phố, hội đồng quản lý cảng thương mại tại cuộc họp thứ 112 ngày 3 tháng 4 năm 1930.
Ghi chú: Cảng Yser là cảng Thương khẩu (tên trước 1975) và cảng Sài Gòn (sau 1975)


Bản đồ năm 1923


Bản đồ năm 1946


Bản đồ năm 1958 cho thấy đường Ascoli đổi lại là Nguyễn Hiền

Thương gia  Victor ASCOLI (1865-1921) sinh ở Marseille năm 1865. Ở tuổi 20, ông làm việc với nhà ALLATINI mà các xí nghiệp thương mại của họ vương tới vùng Viễn Đông.
Giám đốc ở Sài Gòn (1909), quan chức đại biểu ở Paris (1913) cùa Compagnie de commerce et de navigation d'Extrême-Orient.

AUDOUIT – Tây Tây Bắc – Đông Đông Nam. Nối đường  Chasseloup-Laubat ở khu vực thành lính Testard (Camp des Mares).với đường Général-Lizé (khu vực trường bắn).
Đường Audouit xưa là một con đường đất mang tên đường số 20. Nó trở thành đường nhực năm 1937.


Bản đồ năm 1923


Bản đồ năm 1946


Bản đồ năm 1958 cho thấy đã đổi tên là Cao Thắng

Édouard AUDOUIT (1870-1938) sinh tại Cayenne (Guyane), ngày 21 tháng 4  năm 1870. Là ủy viên hải quân, chức vụ quan năm. Ông học rất giỏi và vào làm việc ở Polytechnique và chọn nghề súng đạn. Khoảng năm 1908 ông là chỉ huy đại đội pháo binh ở Sài Gòn, sau đó ông rời binh ngũ để trở thành kỹ sư.


Édouard AUDOUIT

BARBÉ – Nối đường Mayer vối đường Chasseloup-Laubat.
Từ năm 1905 đến 1908 chỉ kéo dài từ đường Richaud tới đường Chasseloup-Laubat. Khi xưa nó còn có tên gọi là đường Palais vì dẫn vào phía hướng Tây Nam của khu vườn dinh toàn quyền, Trong cuộc họp ngày 28 tháng 2 năm 1897 mới chính thức đổi tên như trên. Nhưng lại ghi là Barbet do khởi xướng của Société des études indochinoises, vấn đề chính tả thật sự  lại của hội đồng thành phố trong cuộc họp ngày 30 tháng 8 năm 1926.


Bản đồ năm 1898 ghi là Barbet và giới hạn chỉ tới đường Richaud


Bản đồ năm 1920 và giới hạn tới đường Mayer


Bản đồ năm 1942 đã chỉnh lại tên là Barbé


Bản đồ năm 1958 đổi lại là Lê Quý Đôn

Đại úy hạng nhất BARBÉ (Nicolas, Michel, Auguste) sinh ngày 22 tháng 3 năm 1821 tại Pronschdorff, tỉnh Wœrtli (Bas-Rhin). Ông đến vào thời kỳ chiếm giữ Sài Gòn thuộc trung đoàn thứ 3 thủy quân lục chiến rồi đại đội thứ 25.
Ông bị phục kích chết ngày 7 tháng 12 năm 1860.

                                                                                             (Còn tiếp)

Thứ Ba, 2 tháng 5, 2017

Bài này được trích dịch từ chuyên đề GUIDE HISTORIQUE DES RUES DE SAIGON của ANDRÉ BAUDRIT.


LAI LỊCH NHỮNG TÊN ĐƯỜNG ĐẦU TIÊN
CỦA THÀNH PHỐ SÀI GÒN

(Phần tiếp theo)




ARGONNE – Cảng
Nằm ở phía trước của doanh trại  Francis Garnier và vài tòa nhà của hải quân.
Cảng này mang tên đầu tiên "Primauguet" để tưởng niệm con tàu giữ một vai trò lịch sử trong vùng biển Thái Bình Dương. Tại cuộc họp ngày 26 Tháng Tư năm 1920, Hội Đồng Thành Phố quyết định đặt tên này cho con đường qua cảng này.




Trong bản đồ năm 1878 tên là cảng Primauguet


Trong bản đồ năm 1926 tên là cảng Argonne


Trong bản đồ năm 1958 tên là Bến Bạch Đằng



Trong bản đồ hiện tại là đường Tôn Đức Thắng

           Mặt trận Argonne (1914-1915)
Dù chỉ là một khu vực nhỏ trên Mặt trận phía Tây trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, chiến trường rừng Argonne trên mạn đông bắc Pháp chứng kiến nhiều hoạt động giao chiến dữ dội từ tháng 9 năm 1914 cho đến tháng 9 năm 1915. 

ARIÈS. Đông Bắc – Tây Nam. Nối đường Thomson (?) với đại lộ Albert-1er.
Con đường rất hẹp và hơi dài lúc đầu là đường số 28. Ngày 30 tháng 3 năm 1906 nó giữ tên Ariès.
           Ghi chú: Không biết tác giả có lầm không vì đường Thomson là đường Hồng Bàng và Thành Thái trước 1975.



Trong bản đồ năm 1923 ghi là nối với đường Paulin Vial và Albert-1er


Bản đồ năm 1946


Trong bản đồ năm 1958 thì đã đổi tên là Huỳnh Khương Ninh và Phan Liêm

Nhà thám hiểm Joseph, Hyacinthe, Louis, Jules D'ARIÈS sinh 22 tháng 01 năm 1813 ở Tarbes (Hautes-Pyrénées). Ông vào trường hải quân năm 1829 và thành chỉ huy chiến hạm năm 1859.
ARIÈS là một thành viên cuộc thám hiểm Nam Kỳ. Theo lệnh của đô đốc RIGAULT DE GENOUILLY, ông tham gia vào việc đánh chiếm Sài Gòn ngày 17 tháng 2 năm 1859 và là chỉ huy tàu Meurthe.

ARRAS
Đường gãy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam. Nối đường Chasseloup – Laubat tới đại lộ Galliéni (Cầu Kho). Chạy qua thành lính Testard (Camp des Mares).
Con đường này trước đó gọi là đường Blancsubé, đường Cầu Kho. Đường rất dài: phần đầu bắt đầu từ đường Chasseloup – Laubat, phần kia kéo dài tới kênh Bến Nghé ờ phía Tây Nam. Trong cuộc họp ngày 26 tháng 4 năm 1920, hội đồng thành phố quyết định đổi tên.


Bản dồ năm 1923


Bản dồ năm 1937


Bản dồ năm 1942 cho thấy đoạn dưới đỏi tên là Huỳnh Quang Tiên


Bản đồ năm 1958 cho thấy đoạn đầu đổi tên là Cống Quỳnh

Arras (Nemetacum) là tỉnh lỵ của Pas de Calais, xây dựng ở Scarpe 180 km phía bắc Paris.

                                                                                      (Còn tiếp)

Thứ Hai, 1 tháng 5, 2017

Bài này được trích dịch từ chuyên đề GUIDE HISTORIQUE DES RUES DE SAIGON của ANDRÉ BAUDRIT.


LAI LỊCH NHỮNG TÊN ĐƯỜNG ĐẦU TIÊN
CỦA THÀNH PHỐ SÀI GÒN

(Phần tiếp theo)



ANGIER. Tây Bắc – Đông Nam. Nối với đại lộ Norodom với đường Espagne. Con đường này là một phần của vườn bách thảo.
Đường Angier trước đó là đường số 2; một sắc lệnh ngày 2 tháng 6 năm 1871 đổi tên là đường Tây Ninh; rồi đường Rousseau năm 1897. Tên mới này chỉ thuộc phần Đông Nam nơi có bệnh viện của Angier được hội đồng thành phố đặt trong cuộc họp ngày 17 tháng 2 năm 1936.
Nhưng một sắc lệnh 23 tháng 01 năm 1943, toàn quyền quyết định đăt tên Angier cho toàn bộ con đường này.


Trong bản đồ 1862 thì đường này được đặt tên là đường số 2


Trong bản đồ 1878 thì đường này được đặt tên là đường Tây Ninh


Trong bản đồ 1923 thì đường này được đặt tên là đường Rousseau


Bản đồ năm 1926


Bản đồ năm 1949 cho thấy con đường này có 2 tên:
 màu đỏ là Angier và màu xanh là Rousseau


Bản đồ năm cho thấy chỉ còn một tên Angier


Bản đồ cuối thập niên 1950 cho thấy tên đường đổi là Nguyễn Bĩnh Khiêm
 và vẫn giữ như vậy đến ngày này

Bác sĩ Henry, Albert, Marie ANGIER DE LOHÉAC (1862-1936) sinh ở Anh năm 1862. Ông vào ngành y hải quân, trong quá trình sự nghiệp của mình, ông đã thực hiện nhiều chuyến đi vòng quanh thế giới. Đây là cơ hội khi ông đã "phát hiện" Đông Dương và dừng lại tại đó. Năm 1897, ông được biệt phái ban đầu đến bệnh viện Phnom Penh ở Cam Bốt, sau đó là Mỹ Tho, Nam Kỳ và vào năm sau - 1898 – ông phục vụ tại bệnh viện Chợ Quán. Bác sĩ Angier là người thông thạo việc giao dục y tế phẫu thuật thời gian đó, đã có một uy tín lớn trong nhân dân của Nam Kỳ cả những thương nhân và người đi khai khẩn từng đã điều trị tại bệnh viện Chợ Quán.

Armand Rousseau (1835 - 1896), là một chính trị gia của Đảng Cộng hòa, Toàn quyền Đông Dương cho đến khi qua đời. Rousseau sinh vào ngày 24/8/1835 tại Tréflez.
Paul Armand Rousseau
(1835 – 1896)

ARFEUILLE. Con đường không được thẳng, hướng Bắc Đông Bắc – Nam Tây Nam, giáp với đường Mayer và với đường Paul Blanchy (Tân Định).
Con đường này thời đó thuộc phần ngoại vi thành phố, đã được đặt tên vào ngày 30 tháng 3 năm 1906. Tên trước đó của nó là đường số 47.


Trong bản đồ 1898 nó còn có tên là rue du Marché


Trong bản đồ năm 1920 nó đã có tên là Arfeuille


Bản đồ năm 1923


Bản đồ năm 1937


Bản đồ năm 1958 dổi tên là Nguyễn Đình Chiểu


Bản đồ hiện tại  đổi tên là Trần Quốc Toãn

Nhà chinh phục và thám hiểm Charles, Hippolyte, Marie MOURIN D'ARFEUILLE (1857-1909), sinh ra tại Saint-Helen (Côtes-du-Nord) ngày 11 tháng 7 năm 1837 và qua đời ở Dinan (Côtes-du-Nord) ngày 11 tháng 7 năm 1909. Ông vào Học viện Hải quân năm 1854 và ra trường năm 1856. Trong năm 1857, ông lên tàu cho chiến dịch tại Trung Hoa, nơi mà, năm 1859, ông là một phần trong sư đoàn quản lý Nam Kỳ. Ngày 11 tháng 2 trên chiếc tàu Phlégéton, ông đã tham gia vào việc đánh chiếm những đồn lũy ở mũi Saint Jacques và sau đó là những tác chiến trên sông tiếp theo cuộc chinh phục của đất nước.
Được phong là Lãnh sự Pháp tại Hải Phòng năm 1879 (ông chỉ đảm nhiệm có 2 năm) và ông trở vào Nam Kỳ năm 1881 và nghỉ hưu vào ngày 19 tháng 1 năm 1882.



MOURIN D'ARFEUILLE 


                                                   (Còn tiếp)

  Tết Sài Gòn trăm năm trước ra sao?   Biết những gì xảy ra trong quá khứ xa xưa dường như là mơ ước muôn đời của con người. Bởi trong c...