Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2014

Saigon – Đường Catinat
đầu thế kỷ 20 – Phần 1



Nguyễn Đức Hiệp


Bài biên khảo này có mục đích trình bày cảnh quan, kiến trúc, sinh hoạt thương mại trên con đường Catinat trong bối cảnh đời sống chính trị, văn hóa của thành phố Saigon vào đầu thế kỷ 20. Phân tích các nét văn hóa, kinh tế đặc thù của một con đường trong một địa phương cho ta một cái nhìn vi mô, liên quan đến các cá thể địa phương, ít nhiều không được biết đến trong bối cảnh tổng quan của một nước. Tuy vậy, mặc dầu chỉ là một “tiểu tự sự” (petit recit) nhưng nó sẽ cho ta thấy sự đậm chất của môi trường văn hóa qua đấy con người hay quá trình lịch sử ít nhiều bị ảnh hưởng.
Đường Đồng Khởi thời Pháp thuộc được gọi là rue Catinat (1), tức đường Tự Do trong thời Việt Nam Cộng Hòa và sau 1975 là đường Đồng Khởi. Con đường này là con đường xưa nhất và nổi tiếng nhất Saigon. Đây là một trong những con đường được thiết lập đầu tiên khi Pháp qui hoạch lại thành phố sau khi chiếm được và phá thành Saigon. Còn được gọi là “Rue no. 16” lúc ban đầu cho đến khi là con đường được tráng nhựa đầu tiên, đường Catinat nhanh chóng trở thành trung tâm sinh hoạt thương mại của thành phố.
Sau các công trình xây dựng các cơ sở hạ tầng (đường xá, xe lửa), các kiến trúc công sở, cơ quan hành chánh và thương mại được thống đốc dân sự Le Myre de Vilers (1879-1883) năng động khởi công hay thúc đẩy hoàn thành thì thành phố Saigon cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 sau hơn 35 năm bị Pháp chiếm đã trở thành một thành phố có cảnh quan qui hoạch và kiến trúc với nét chính ở trung tâm giống như một thành phố Âu châu.
Đầu thập niên 1910, xe hơi bắt đầu phổ biến ở thành phố Saigon và dịch vụ du lịch về các cảnh quan địa điểm, đời sống, sinh hoạt xã hội ở Saigon và Nam Kỳ được biết đến và giới thiệu qua các ảnh “cartes postales” từ những người Âu viếng hay ở Saigon gởi cho bạn bè, thân nhân ở các nước. Kỹ thuật nhiếp ảnh cũng tiến triển nhanh, và bắt đầu phổ biến rộng rãi và từ đó nhiều người đã sống được với nghề nhiếp ảnh hay trở thành nhiếp ảnh gia. Các du khách từ Âu châu và Viễn đông đã có cảm nhận chung Saigon là “Perle de l’Orient” đối với người Pháp hay “Paris of the East” đối với các du khách từ các nước hay thuộc địa nói tiếng Anh trong vùng Viễn Đông.
Trong số các nhà nhiếp ảnh sống với nghề mới này ở Saigon có rất nhiều người Việt. Họ có cửa tiệm ở nhiều nơi trong thành phố, nhưng hiện nay hầu như tất cả các hình ảnh của họ không tìm lại được hay đã bị mất. Chỉ có một số các hình ảnh của các nhà nhiếp ảnh Pháp sống ở Saigon ở đầu thế kỷ 20 là còn để lại hay tìm lại được mà đa số là các ảnh “cartes postales” đã được các các cơ sở hay nhà kinh doanh in lại để bán cho các du khách hay người dân ở Saigon có nhu cầu gởi cho bạn bè hay người thân ở nước ngoài.
Đầu thế kỷ 20 cũng là thời điểm mà người Việt bắt đầu thay đổi qua sự đối diện chạm trán với một nền văn hóa mới xa lạ và một tư duy phát triển xã hội, kinh tế và chính trị hoàn toàn khác trong một môi trường họ sinh sống đã hơn 35 năm từ khi người Pháp hiện diện ở Nam kỳ. Phong trào Minh Tân, do Trần Chánh Chiếu phát động, cổ vũ canh tân đất nước con người qua sự phát triển kinh tế, công nghệ. Qua báo “Nông Cổ Mín Đàm” (và sau này “Lục Tỉnh Tân Văn”), các nhà canh tân khuyến khích người nước Nam tham gia (“biển cải Nam nhân”) mở các cơ sở thương mại, sản xuất để cạnh tranh ở khắp Saigon và Lục tỉnh với người Pháp, Hoa và Ấn. Người Pháp, Hoa và Ấn lúc đó đang hầu như thống lĩnh hoàn toàn các hoạt động kinh tế ở Nam Kỳ.
Trung tâm Saigon trên đường Catinat và các đường chung quanh từ năm 1904 đã bắt đầu xuất hiện các cửa hàng thương mại kinh doanh của người Việt như cửa hàng nhiếp ảnh của Jean-Pierre Trọng, nhà in của Nguyễn Văn Toán (Đinh Thái Sơn hay Phát Toán), nhà in Lê Phát Tân, cửa hàng bán xe đạp, làm bánh mì của nhà nhiếp ảnh Lê Văn Ba … Trong số các cửa hàng này có một số tham gia trong phong trào Minh Tân như cơ sở thương mại của Nguyễn An Khương, Trần Chánh Chiếu. Cho đến thập niên 1920 ngay cả sau khi phong trào Minh Tân tan rã (Trần Chánh Chiếu bị bắt và quản thúc năm 1908) thì rất nhiều cơ sở thương mại và dịch vụ của người Việt đã xuất hiện gia nhập tân trào ở khắp nơi (2).
Bài này trình bày sinh hoạt xã hội, kinh tế ở đường Catinat (Đồng Khởi) Saigon đầu thế kỷ 20 qua các hình ảnh, hồi ký của các du khách và các tư liệu địa lý kinh tế đã được ghi lại khá đầy đủ và chi tiết trong Niên giám Đông Dương trong thập niên 1910 và 1920. Qua đó ta sẽ thấy sự thay đổi cảnh quan, kiến trúc, thiết kế đô thị từ đầu thế kỷ 20 đến ngày nay một phần lớn là nhờ những hình ảnh mà các nhà nhiếp ảnh ở Saigon đã chụp trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 đã để lại. Sở dĩ đường Catinat được chọn là tiêu biểu của đề tài này vì số lượng các hình ảnh chụp từ đầu thế kỷ 20 về đường Catinat là còn lại nhiều nhất so với các đường khác ở Saigon. Rất nhiều ảnh chụp trước kia đã được các nhà kinh doanh in ra làm“cartes postales” và vì thế chúng không bị mất hay thất lạc nhiều (3).
Đặc biệt Niên giám Đông Dương trong Thư viện quốc gia Pháp (Bibliothèque Nationale de France, BNF) từ năm 1905 đến 1912 đã có ghi đầy đủ tên và địa chỉ của các cơ sở kinh doanh, chủ hay người ở tại mỗi nhà trên các con đường ở Saigon. Sau đó từ năm 1914 trở đi thì Niên giám chỉ còn ghi lại, theo thứ tự chữ cái, các cơ sở kinh doanh, kỹ nghệ hay các doanh nhân mà thôi, không cho ta biết đầy đủ và chi tiết như các niên giám trước. Các tư liệu này đã được số hóa (digitized) trên mạng BNF và vì thế giúp cho người nghiên cứu tra khảo được dễ dàng các dữ liệu mà họ cần, qua sự tìm kiếm các từ chính (keywords).
Ngoài những bức ảnh có ghi thời gian chụp, làm sao chúng ta có thể ước đoán được thời điểm các bức ảnh được chụp và vị trí của các tòa nhà hay cảnh quan trong hình để đặt chúng vào đúng chỗ trên con đường?. Để trả lời câu hỏi này, ta có thể dùng một số chi tiết biết được như sau.
1.     Nếu biết được tác giả bức ảnh hay nằm trong bộ sưu tập của họ hay các nhà kinh doanh “cartes postales” và theo các dấu ấn bưu điện ta có thể ước định khoảng thời gian ảnh được chụp.
2.     Dấu ấn của cảnh quan thí dụ như xe hơi chỉ có ở Saigon sau năm 1910, nếu chỉ có xe kéo thì bức ảnh chắc là trước 1910. Tòa nhà trong hình không có hay chỉ được xây sau này ở một thời điểm đã biết, sẽ giúp ta ước định thời điểm của bức ảnh. Vị thế của đường, các giao điểm (ngã ba, ngã tư) và các tòa nhà so với bản đồ, tên đường cũng là những mốc mà ta có thể phỏng đoán thời gian (thí dụ, bến Bạch Đằng có nhiều tên như “quai du Donnai”, “quai Napoléon”, “quai du Commerce” (từ 1870), “quai Francis Garnier” (từ 1896), “quai Le Myre de Vilers” (từ 1920), tùy thời điểm khi tên bến được đổi) (4).
3.     Ký hiệu của vật hay bảng hiệu các cửa tiệm nếu có sẽ được kiểm trong niên giám Đông Dương ở các năm phù hợp.
4.     Những chi tiết khác như chất lượng của ảnh, màu sắc, kỹ thuật, series ảnh cũng giúp ta xác định được tác giả hay khoảng thời gian của kỹ thuật chụp và rửa ảnh.
Vì đặt trở lại thời gian đầu thế kỷ 20, nên bắt đầu từ đây trong bài này, tên gọi các con đường được đề cập đến sẽ được dùng như lúc đã được dùng trong thời điểm đó với chú thích tên tương đương với tên đường được dùng hiện nay..


Đường Catinat (Đồng Khởi) – sinh hoạt kinh tế xã hội đầu thế kỷ 20



Trong suốt thế kỷ 18 đến gần cuối thế kỷ 19, trung tâm buôn bán thương mại ở Saigon là dọc kinh Chợ Vải, tụ tập chung quanh chợ (vị trí chợ Cũ ngày nay) ở gần góc kinh và sông Saigon. Kinh Chợ Vải chảy từ sông Saigon từ đầu đường Nguyễn Huệ ngày nay đến tận cửa thành Saigon cũ (cửa Căn Nguyên hay Gia Định Môn của thành Quy hay thành Phiên An dưới thời Gia Long) (4) mà vị trí hiện nay là Ủy ban Nhân dân Thành phố.
Đến thời Pháp thuộc từ năm 1861, trước khi kinh Chợ Vải (Kinh Lớn) bị lấp vào năm 1889 (khởi công lấp năm 1887), gộp chung hai đuờng Charner và Rigault de Genouilly ở hai bên bờ kinh thành Đại lộ Charner (Nguyễn Huệ ngày nay), thì đường Catinat và Route National (sau 1901 là đường Paul Blanchy, và Hai Bà Trưng ngày nay) là hai đường chính của thành phố Saigon. Nơi đây tập trung nhiều cơ sở kinh doanh Pháp, Hoa, Ấn và Việt với các dịch vụ cao cấp mà người dân (chủ yếu là người Pháp) đòi hỏi như ngân hàng, in sách, thuốc tây, máy móc (như máy đánh chữ Remington, Underwood), máy ảnh, rượu, dụng cụ âm nhạc, nữ trang, súng đạn săn bắn hay các đồ nhập từ nước ngoài.
Đối với đa số người dân thường thì khu vực Chợ Cũ, nơi ghe tàu chở hàng hóa và những sản phẩm như gạo, cá, trái cây, vải... cập bến hai bên bờ các kênh, rạch, là nơi họ cần nhất. Đây cũng là nơi mà người Pháp, các cơ quan chính quyền, trại lính, tu viện… đến để mua thức ăn trong cuộc sống thường ngày.
Chợ Cũ nằm giữa kênh Chợ Vải và rạch Cầu Sấu (đường Hàm Nghi ngày nay). Theo bản đồ “Plan du Port de Saigon (1863)” vẽ theo lệnh của đề đốc de La Grandière (4) thì kênh Chợ Vải chảy từ sông Saigon, mà hai bờ kênh là đường Charner và đường Rigault de Genouilly, lên đến đường Bonnard (Lê Lợi) và đường d’Espagne (Lê Thánh Tôn). Khi đến đường Bonnard, kênh rẽ ra bên phải đến tận khu vực mà sau này là nhà hát thành phố và bên trái đến đường Pellerin (Pasteur). Khúc kênh trên đường Bonnard còn gọi là kênh Coffyn (do Đại tá Coffyn thực hiện đào kênh). Khi kênh chảy đến đường Pellerin thì nó bắt đầu quay ngược lại đổ ra rạch Bến Nghé, để đi vào kênh Tàu Hủ vào Chợ Lớn. Và trước khi đổ ra rạch Bến Nghé, nó cũng rẽ trái thành một nhánh nối với rạch Cầu Sấu để đi ra lại cửa rạch Cầu Sấu và kênh Chợ Vải ở sông Saigon. Ta có thể dễ dàng nhận thấy vị trí Chợ Cũ là nằm ở trung tâm vận chuyển đường thủy qua kinh rạch ở thế kỷ 19. Vì thế khu vực Chợ Cũ và khu vực chung quanh là nơi tập trung nhiều nhất các cơ sở buôn bán của người Hoa, Việt và Ấn ở trung tâm thành phố Saigon.
Cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, nhất là bắt đầu từ thập niên 1910, là lúc vai trò vận tải của đường thủy dần nhường chỗ cho hệ thống vận chuyển đường bộ và đường sắt. Các kinh rạch trong thành phố bị lấp dần để trở thành các lộ xá như kênh Coffyn trở thành đại lộ Bonnard, rạch Cầu Sấu thành đại lộ “Boulevard de la Somme” (Hàm Nghi), Kinh Lớn (Chợ Vải) thành đại lộ Charner. Vai trò thương mại của Chợ Cũ gần sông Saigon trong nền kinh tế giảm sút lần, cho đến khi Chợ Mới (5) (chợ Bến Thành ngày nay) được thành lập năm 1914 gần bến xe và nhà ga xe lửa nối với Chợ Lớn và các tỉnh miền Tây thì Chợ Cũ hầu như hoàn toàn không còn được nhắc đến. Cũng vậy sau khi kênh Chợ Vải bị lấp thì đại lộ Charner trở thành đường lớn song song với đường Catinat ở Saigon. Vị trí thương mại của đường Catinat tuy có yếu đi, nhưng nó vẫn còn được coi là trung tâm kinh tế và văn hóa ở Saigon.
Theo ông Jottrand, cố vấn người Pháp về luật pháp cho vua Siam (Thái Lan), khi viếng Saigon đầu thập niên 1900 nhận xét là Saigon và toàn Đông Dương có thương mại và kỹ nghệ yếu kém so với các nước và thành phố trong vùng là vì thuế nhập khẩu hàng hàng nước ngoài quá cao, không khuyến khích được sự cạnh tranh và phát triển (16).
Theo ông Jottrand đó là hệ quả của chính sách của những người có “tinh thần nhỏ bé” (petit esprit), bị áp lực của các thiểu số giàu có, của các nhà buôn, nhà sản xuất vải bông ở Elbeuf, hàng lụa của Lyon bảo vệ quyền lợi và thị trường của họ bằng hàng rào quan thuế cao. Mà dầu được đã bảo vệ như vậy họ cũng không cạnh tranh lại được với các sản phẩm của người Đức và các nước khác. Về thương mại, trong số khoảng 2500 người Pháp ở Saigon thì khoảng 2000 người là công chức và gia đình họ, chỉ có khoảng 150 nhà thương mại mà trong đó đa số phục vụ cho các công chức trên. Trừ thành phố Chợ Lớn, thì kỹ nghệ, thương mại rất yếu không so sánh được với các thành phố trong vùng.
Đó là tình hình chung của thành phố Saigon đầu thế kỷ 20. Trở lại chuyện nhỏ, “tiểu tự sự” (“petit récit”), về con đường Catinat. Bắt đầu từ bến Bạch Đằng (“quai Francis Garnier”), chúng ta thử trở lại thời gian ở thập niên 1900 đầu thế kỷ 20, cách đây khoảng 100 năm và đi dạo từ đầu đường cho đến cuối đường chấm dứt ngay quảng trường Nhà thờ Đức Bà để quan sát hoạt động thương mại và đời sống của người xưa ở con đường nổi tiếng này của thành phố Saigon.
Từ đầu đường ở bờ sông lên đến cuối đường có dốc lên thoai thoải đến Nhà thờ Đức bà (xưa kia vị trí này là trung tâm của thành Phiên An, tức thành Quy, thời vua Gia Long) là điểm cuối không còn dốc, từ đó ta sẽ nhìn lại con đường Catinat này.

Hình 1: Hình này là của nhà nhiếp ảnh Ludovic Crespin (có cửa tiệm “Photo Studio” ở số 136 đường Catinat). Bên trái là khách sạn “La Rotonde” (trên lầu là văn phòng của công ty tàu biển “Chargeurs Réunis” mà Nguyễn Tất Thành đến xin làm phụ bếp tàu đi qua Pháp). Theo Niên giám Đông Dương năm 1910 thì văn phòng Chargeurs Reunis là do ông Saravane quản lý. Bên trái hình là hai tiệm đổi tiền của ba người Ấn (mà người Pháp gọi là“malabar”), số 1 đường Catinat của ông Mougamadou Abdoullah (1909), ông Mougamadou Oussaine (1910) và số 1bis của ông Mougamade Abdoullah (3) (theo niên giám Đông Dương 1909, 1910). Cho đến 1912 số 1 vẫn là nơi đổi tiền của người Ấn. Hình này có lẽ chụp vào khoảng cuối thập niên 1910 và đầu 1920.


Hình 2: Đường Catinat và các con đường chung quanh. Mũi tên chỉ các ảnh trong bài này được các nhà nhiếp ảnh cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 chụp theo hướng chỉ của mũi tên trong hình.


Hình 3: Cũng vị trí đầu đường Catinat, bên trái là Khách sạn “Hôtel d’Annam” (Nam Việt khách lầu) của ông Huỳnh Huệ Ký. Hình chụp vào khoảng giữa hay cuối thập niên 1920. Theo quảng cáo trên báo “L’Ère nouvelle” tháng 9/1926 thì ông Ký có 2 khách sạn “Nam Việt khách lầu”, một ở số 72-80 đường Kinh Lấp (Charner) và khách sạn thứ hai ở số 15 đường Carabelli. Niên giám Đông Dương (1908, 1909, 1910, 1912, 1914, 1915, 1924, 1925) không thấy ghi địa chỉ này ở góc Catinat và “quai le Myre de Vilers” (năm 1920 đổi tên “quai Francis Garnier” thành “quai Le Myre de Vilers”).



Trong trang quảng cáo trên báo “l’Ère Nouvelle” (Premiere année, numéro 4, Samedi 28 Aout 1926, trụ sở 112 rue d’Espagne) có đăng như sau về “Nam Việt khách lầu” (trích nguyên văn, chính tả giữ nguyên như in trong báo)
“Hotel d’Annam Nam Việt Khách lầu, Đường Kinh-lấp Bd. Charner No 72 à 80 và đường Carabelli No. 15 Saigon
Kính cùng quí khách rỏ, tôi dọn phòng rộng mát và sạch sẻ, lại cũng có phòng ở dưới đất, được cận tiện cho quí khách. Xin quí khách có đi Saigon thì đến tiệm tôi mà ở lấy làm thong thả lắm. Huỳnh Huệ Ký, Cẩm khái
Từ đầu đường bắt đầu bên phải là số chẵn và bên trái là số lẻ Đi vào đường Catinat phía tay phải, sau “Hôtel de la Rotonde” (số 2 Catinat) là văn phòng công ty “Denis Frères” ở số 4 Catinat. Công ty này đã hiện diện từ lâu đời ở Nam Kỳ, từ những năm của thập niên 1880 khi Pháp bắt đầu củng cố các tỉnh Nam Kỳ vừa chiếm được. Trụ sở công ty “Denis Frères” chiếm nguyên góc đường Catinat và đường Vannier (6) (số 4 Catinat và 5 rue Vannier).
Công ty “Denis Frères” chuyên xuất nhập khẩu rượu, bảo hiểm tàu biển, đại lý cho nhiều công ty nước ngoài, và là đại diện lãnh sự cho hai nước Đan Mạch và Siam (Thái Lan) từ những năm 1880 cho đến thập niên 1920. Từ đây và bên kia đường đi lên là các cửa tiệm may, tiệm vải, sửa giày, nữ trang, tạp hóa của người Hoa, Ấn và Việt, đa số là của người Hoa.


Hình 4: Đây là tòa nhà ngay góc đường Catinat và Vannier (bên kia đường Vannier là trụ sở công ty Dennis Frères, số 4 Catinat). Theo niên giám 1907, 1908, 1909 thì số 6 Catinat là tiệm bán café của ông Lương Trung, số 8 là tiệm may (tailleur) “Lương Tich” (trước cửa là 1 người đang đứng cầm dù), số 10 tiệm may “Dương Kim”, số 12 tiệm sửa giày (cordonnier) “Thai Thieu”, số 14 tiệm may-sửa giày “Ly Nhu”, số 16 tiệm may “Tran-On” (trước cửa là các người Hoa đang đứng ở giữa hình) và số 18 tiệm may “Lương-Can”. Kế bên tòa nhà này, phía trái hình là tiệm thuốc tây, số 20-22 Catinat, của ông Holbé. Trong Niên giám 1910 thì tiệm may “Lương Tich” không còn, do đó ta có thể kết luận là bức hình này chụp năm 1909 hay trước đó. Niên giám 1906 cho biết số 6 là tiệm may và tiệm sửa giày “Ngo-Thoai” và số 12 là tiệm may “Ly-Nhu”. Trong hình, tiệm số 12 có bảng hiệu (chữ mờ đọc không rõ nhưng có lẽ là Thai-Thieu). Như vậy là hình được chụp vào khoảng 1907-1909. Tiệm “café Luong-Trung” sau này là tiệm “café Alger” (số 6 Catinat)



Tại ngã tư đầu tiên của đường Catinat, ngã tư Catinat và rue Vannier (ngày nay là đường Ngô Đức Kế), khi đi qua bên kia đường ta sẽ thấy các cửa tiệm may, sửa giày của người Hoa và Việt từ số 8 đến 16 rue Catinat (xem hình 4). Như đã nói trên, các cửa tiệm của người Hoa rất nhiều trên đường Vannier từ đại lộ Charner (Nguyễn Huệ ngày nay) cho đến quảng trường Rigault de Genouilly (quảng trường Mê Linh ngày nay).
Tại ðây từ số 8 ðến 16 Catinat, góc đường Catinat và đường Vannier sau này, vào nãm 1930, Henry Edouard Charigny de Lachevrotière, mở một quán rượu, và năm 1932 ông Patrice Luciani kế vị. Nãm 1937 trở thành khách sạn “Saigon Palace” với quán rượu ở dưới. Một khách sạn thanh lịch ở Saigon và ngày nay là khách sạn “Grand Hotel”. Ông Lachevrotière sau này là chủ bút tờ “La Dépêche”. Ông là một người bảo thủ, đứng về phía quyền lợi Pháp chống lại sự thăng tiến độc lập của người Việt. Ông đã từng bút chiến với các nhân sĩ trên báo chí ở Saigon.
Cũng trên đường Catinat phía bên kia, gần bến Bạch Đằng là các nhà in và tiệm bán sách “Imprimerie Librairie Saigonnaise” (15-17-19 rue Catinat, directeur Pointillon), “Imprimerie Nam-Tay” (51 và 53 rue Catinat). Trước nhà in Nam-Tay, ở số 35-41 rue Catinat là nhà in “Imprimerie Saigonnaise” của ông Lê Phát Tân (niên giám 1909), số 39-41 “Imprimerie Saigonnaise” của L. Roger (niên giám 1910) và số 29 “Imprimerie-reliure” của Ki-Cheong (có lẽ là người Hoa từ Singapore hay Malacca).
Địa chỉ 29-31 sau này là trụ sở của công ty “Société Cochinchinoise d’ importation et d’exportation “Thuan-Hoa”” (niên giám 1922) do ông Nguyễn Phú Khai quản lý. Ông Nguyễn Phú Khai là chủ bút tờ báo “Tribune Indigene” (Diễn đàn bản xứ). Trước kia ông tốt nghiệp kỹ sư ở Pháp và mở nhà máy xay lúa ở Mỹ Tho cạnh tranh với người Hoa. Ông Khai chủ trương Việt Nam phải canh tân, tiến bộ, thoát khỏi nghèo khó, có sức mạnh về kinh tế. Ông Khai có tư tưởng cũng giống như ông Phan Chu Trinh, đấu tranh chống Pháp ôn hòa đem lại quyền lợi cho người bản xứ, vận động để Việt nam được quy chế lập hiến. Ông Nguyễn Phú Khai và các ông Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long,.. sau này lập ra đảng chính trị đầu tiên ở Nam Kỳ vào năm 1923, Đảng Lập Hiến (Parti Constitutionaliste).
Đường Catinat gần phía bến Bạch Đằng vẫn còn nhiều cửa tiệm người Hoa. Cửa tiệm người Hoa nhiều hơn các cửa tiệm kinh doanh của người Pháp và Ấn.


               Hình 5: Các thương gia người Hoa ở đường Catinat (Collection Poujade de Ladevèze)



Ta hãy xem niên giám Đông Dương 1908, trên đường Catinat có rất nhiều tiệm của người Hoa (phụ lục 1). Trong số 143 địa chỉ thì 43 là cơ sở doanh nghiệp người Hoa, chiếm 30% số lượng các cơ sở trên đường Catinat. Và rất nhiều các tiệm Hoa kiều chung quanh đường Catinat, ở trên các đường rue Turc, Vannier, d’Ormay trải dài từ công trường Rigault de Genouilly (công trường Mê Linh ngày nay) đến đại lộ Charner, rue d’Adran (Hồ Tùng Mậu ngày nay) và khu vực Chợ Cũ.
Bà Louise Bourbonnaud (7), trong quyển sách về chuyến đi Ấn Độ và Viễn đông của minh (1889), có ghé Saigon ở một thời gian trong khách sạn “Hotel de l’Univers” gần đường Catinat, bà đã mua đồ ở các tiệm người Hoa và có tả một số tiệm người Hoa như sau (17):
Ở bên kia đường, có tiệm may và tiệm sửa giày của người Hoa, ngoài ra còn có tiệm giặt (blanchisserie). Những người Hoa này làm việc siêng năng đáng ngạc nhiên. Người thợ may có máy may và may từ sáng đến nửa đêm không ngừng. Tôi không còn ngạc nhiên nữa khi nghe nói là những thợ thủ công và các nhà thương mại nhỏ người Âu sẽ không bao giờ biết cách cạnh tranh được với các người Hoa cùng nghề.
Người ta biết rằng trong hơn một thành phố lớn ở Mỹ, chính những người “da vàng” (“hommes jaunes”) là chiếm độc quyền nghề giặt ủi. Ở đây cũng như vậy”
Người Ấn có một số cửa hàng tạp hóa và đổi tiền trên đường Catinat (xem phụ lục 2), rue d’Ormay và nhiều cửa hàng (escompteurs) quanh Chợ Cũ, tập trung nhiều nhất là ở đường rue d’Adran, rue d’Ohier. Đường Ohier (trước kia là đường “rue de l’Église” (8) và ngày nay là Tôn Thất Thiệp) có thể được coi như là “Tiểu Ấn Độ” (Little India) như thường được gọi nơi mà cộng đồng của họ có các khu tương tự trong các thành phố khác ở Đông Nam Á như Singapore, Kulua Lumpur. Trên đường Ohier có ngôi đền Ấn Giáo lớn nhất Việt Nam. Và trên đường Amiral Dupré (cắt ngang đường Catinat) là ngôi đền thờ Hồi giáo của người Ấn.



Nguyễn Đức Hiệp



(Còn tiếp)



Chú thích:



(1) Catinat là tên một tướng Pháp thời Louis XIV, sau này là tên một chiến hạm (la corvette Catinat) tham dự trong trận đánh cảng Đà Nẵng (1856) và Saigon (1859) của hải quân Pháp. Toàn quyền Nam kỳ, đề đốc De la Grandière năm 1865, đổi tên đường “Rue no. 6” thành đường Catinat dựa theo tên của chiến hạm này.
(2) Xem phụ lục 4 về quảng cáo một số cơ sở thương mại người Việt. Báo “Lục Tỉnh Tân Văn” mà Trần Chánh Chiếu chủ biên có trụ sở ở 6 rue Krantz (đường Hàm Nghi ngày nay) do F. H Schneider đứng tên. Kế bên tòa soạn là khách sạn “Nam Trung”, cơ sở gặp gỡ và kinh tài của phong trào Minh Tân. Niên giám Đông Dương (1910, 1911, 1912) ghi “4-6 F.H Schneider, aubergiste” và Niên giám 1907, 1908, 1909 ghi “8. Mme Lachal, propriétaire du café de la gare”. Khách sạn “Nam Trung” là số 4, kế bên bưu điện số “2. Postes et Telegraphes”, gần ga xe lửa cạnh bến Bạch Đằng. Đường Krantz trước kia là đại lộ “boulevard de Canton” vì ở đây có rất nhiều người Hoa gốc Quảng Đông buôn bán trên đường dọc kênh rạch, đến năm 1897 thì chia ra làm hai đường hai bên, đường Krantz và đường Duperré. Đường xe lửa bắt đầu từ đầu đường Krantz đến ga Saigon gần chợ Bến Thành. Năm 1920 hai đường Krantz và Duperré nhập lại thành Boulevard de la Somme (nay là Hàm Nghi). Theo Niên giám Đông Dương 1906 có ghi một người ở số 11 rue d’Adran (đường Hồ Tùng Mậu ngày nay) gần Chợ Cũ tên là “Tran-Chieu, aubergiste”, có thể địa chỉ này cũng là một khách sạn của Gilbert Trần Chánh Chiếu.
(3) Các ảnh “cartes postales” do các nhà tư nhân thỉnh thoảng xuất hiện (đôi khi có dấu ngày tháng trên tem) được bán đấu giá trên mạng như trênwww.delcampe.net. Đây cũng là một nguồn ảnh tư liệu tốt cho ta nhiều thông tin
(4) Năm 1920, hàng loạt các đường và địa danh đổi tên thành tên các địa danh hay nhân vật trong Thế chiến thứ nhất, như Boulevard de la Somme, rue d’Alsace Lorraine, rue d’Ypres, rue Général Lizé, rue Dixmude, rue Champagne, Boulevard Kitchener, Place Marechal Joffre. Rue Verdun và “quai de la Marne” (bến Vân Đồn) được đổi từ 1917 (9).
(5) Chợ Mới (bến Thành) là do công ty Brossard & Mopin xây, Công ty Brossard & Mopin xây cất rất nhiều công trình ở Đông Dương và các nơi khác ở Viễn Đông, và có văn phòng ở Saigon, Singapore, Hồng Kông, Thượng Hải, Thiên Tân, Vladivostock. Ông Jean Brossard có một người con ngoài hôn thú với một phụ nữ Việt năm 1905. Sau này vào năm 1946 người con này và gia đình đã đệ đơn xin chính phủ Việt nam Dân chủ Cộng hòa trở lại quốc tịch Việt Nam (23).
(6) Vannier là tên của một sĩ quan Pháp đã giúp vua Gia Long chống Tây Sơn vào đầu thế kỷ 19 và làm quan cho nhà Nguyễn một thời gian ở Huế, trước khi gia đình (vợ là người Việt nam) hồi hương về Pháp dưới thời Minh Mạng.
(7) Bà quả phụ Bourbonnaud là phụ nữ can đảm, gan dạ đi nhiều nơi trên thế giới một mình (Bắc, Trung và Nam Mỹ, Ấn Độ, Borneo, Sumatra, Việt Nam, Nhật, Trung Quốc, Phi Châu,..), ghi lại các sự kiện, sinh hoạt, phong tục các nơi trong các sách bà xuất bản. Vào thế kỷ 19, phụ nữ đi các nơi xa lạ, bất trắc, là một sự khác thường. Bà là hội viên hội “Société de Géographie de Paris” và lập ra giải “Prix Louise Bourbonnaud” cho các tác phẩm du ký. Chồng bà là nhà doanh nghiệp, xây dựng đường xá ở Paris, và là bạn của ông Haussmann, người thay đổi bộ mặt kiến trúc và đường xá Paris thành các đại lộ lớn trong thập niên 1860. Bà hay giúp đỡ các người nghèo ở Paris và các nơi bà đi qua. Louise Bourbonnaud cũng là hội viên sáng lập“Société de secours aux Blessés des Armées de terre et de mer”, sau này trở thành Hội chữ Thập đỏ (Croix-Rouge).
(8) Đường “Rue de l’Église” đi ngang qua nhà thờ đầu tiên ở Saigon (1863). Nhà thờ này xây bằng gỗ ở vị trí sau này là Tòa Hòa giải (Justice de Paix) và ngày nay là tòa nhà Sun Wah, góc đường Nguyễn Huệ và Tôn Thất Thiệp.



Tham khảo



(1) Annuaire général de l'Indo-Chine française ["puis" de l'Indochine], Publisher: F.-H. Schneider (Hanoi) 1906, 1907, 1908, 1909, 1910, 1911, 1912, 1914, 1922, 1925
(2) L. Lacroix-Sommé, R. J. Dickson et A. J. Burtschy, Annuaire complet (européen et indigène) de toute l'Indochine, commerce, industrie, plantations, mines, adresses particulières...: Indochine, adresses, 1ère année 1933-1934, A. Portail (Saigon), 1933
(3) Guide pratique, renseignements et adresses. Saïgon, J. Aspar (24 rue Catinat Saïgon), 1934.
(4) Huỳnh Ngọc Tráng, Trương Ngọc Tường, Phạm Thiếu Hương, Nguyễn Đại Phúc, Đỗ Văn Anh, Saigon-Gia Định xưa, Tư liệu & Hình Ảnh, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1996.
(5) Annuaire de Cochinchine Française pour l’ année 1887, Saigon, Imprimerie Coloniale 1887.
(6) L’Ère Nouvelle, 28/8/1926, 11/01/1927, 28/2/1928
(7) Arthur Delteil, Un an de séjour en Cochinchine: guide du voyageur à Saïgon, Challamel aîné (Paris), 1887.
(8) L. I., Saïgon-Souvenir, petit guide saigonnais à l'usage des passagers des débutants dans la colonie, Coudurier et Montégout (Saïgon), 1906.
(9) Notice historique, administrative et politique sur la ville de Saïgon. Publiée par les soins du secrétaire général de la mairie, Impr. de l'Union (Saïgon), 1917
(10) Vương Hồng Sển, Saigon năm xưa, 1992, Nxb Trẻ.
(11) Các hình ảnh từ belleindochine.free.fr, www.delcampe.net và http://www.flickr.com/photos/13476480@N07/sets/
(12) Nguyễn Liên Phong, Nam Kỳ nhơn vật diễn ca, quyển 1: www.archive.org/details/NamKyPhongTucNhonVatDienCa và quyển 2:http://www.archive.org/details/NamKyPhongTucNhonVatDienCa2
(13) Christopher Goscha, ‘The modern barbarian’: Nguyen Van Vinh and the complexity of colonial modernity in Vietnam, European J. of East Asian Studies, 2004, Vol. 3, no. 1, pp. 135-169.
(14) Joseph Ferrière, Georges Garros, Alfred Meynard, Alfred Raquez, L' Indo-Chine 1906, publíé sous les auspices du Gouvernement général de l'Indo-Chine, 1906.
(15) Annuaire de l'Indo-Chine française, première partie: Cochinchine, Imprimerie Coloniale, Saigon, 1897.
(16) Emile Jottrand, Saigon et Cholen, opinions et souvenirs, La Vie coloniale: revue de la colonisation, du commerce et de l'industrie, No. 78 1/3/1909, pp. 47-48, No. 79, 1/4/1909 pp. 65-66.
(17) Louise Bourbonnaud , Les Indes et l'Extrême-Orient, impressions de voyage d'une Parisienne, Paris, 1889,http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5684832m/f178.tableDesMatieres
(18) Annuaire de la Cochinchine pour l’année 1876 (1879, 1880, 1881, 1885, 1887), Imprimerie du Gouvernement (Coloniale), Saigon, 1876 (1879, 1880, 1881, 1885, 1887).
(19) Xavier Guillaume, La Terre du Dragon Tome 1, Publibook, Paris, 2004.
(20) Antoine Brébion, Dictionnaire de bio-bibliographie générale, ancienne et moderne de l'Indochine française, publié après la mort de l'auteur par Antoine Cabaton, 1935.
(21) Vương Hồng Sển, Saigon Tạp Pín Lù, Nxb Văn Hóa-Thông Tin, 1997.
(22) Horace Fabiani, Souvenirs d'Algérie et d'Orient, E. Dentu (Paris), 1878.
(23) Christina Firpo, personal communication.

Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014

VĨNH BIỆT MỘT BIỂU TƯỢNG CỦA SÀI GÒN

                 Đầu năm 2015, thương xá Tax sẽ bị đập bỏ để được xây dựng vào đó là khu thương mại 40 tầng. Như chúng ta đã biết Sài Gòn tồn tại nhiều công trình trên 100 năm và chúng đã trở thành những di tích của thành phố cũng như là những địa điểm lịch sử hay kỷ niệm của những người Sài Gòn cố cựu. Sự mất đi của thương xá Tax hay khu vực của nhà sách Xuân Thu, nhà hàng Givral cùng công viên Vạn Xuân để lại niềm nuối tiếc cho nhiều người và bây giờ thành phố sắp chứng kiến sự ra đi của một công trình nữa.
                 Khu thương xá này được xây dựng vào năm 1880 nằm ở góc đường Bonard và Charner ( Lê Lợi và Nguyễn Huệ). Ban đầu, nơi này mang tên Les Grands Magazins Charner (GMC) được xây dựng theo kiến trúc Pháp với những nét chấm phá mang đậm đường nét văn hóa Á Đông, chuyên bán các mặt hàng bazar của các nước trên thế giới, chủ yếu là Pháp, Anh. Thời bấy giờ chỉ có giới thượng lưu ở Sài Gòn hoặc các đại điền chủ ở miền quê đến đây mua sắm mặt hàng vải, đồng hồ, máy hát... chủ yếu là hàng hiệu để chứng tỏ đẳng cấp của người sử dụng. Năm 1942, việc kinh doanh lúc này rất hưng thịnh nên người chủ Thương xá đập bỏ phần tháp đồng hồ bên trên xây thêm một tầng nữa. Năm 1960, Charner được giao lại cho Hội Mậu dịch, đổi tên là Thương xá Tax với hoạt động chủ yếu là cho thương nhân thuê mặt bằng để kinh doanh. Diện tích sử dụng là 15.000m2 gồm 1 trệt và 4 lầu.





                   Về sau, để tận dụng tối đa công năng và hiệu quả sử dụng tòa nhà, người chủ GMC đã quyết định đập bỏ tháp đồng hồ và xây thêm một tầng nữa. Chữ GMC được đặt trên nóc tòa nhà, quan khách có thể nhìn thấy từ rất xa.





                    Đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, tòa nhà GMC được Hội Mậu dịch đổi tên thành Thương xá Tax, mặt bằng được chia nhỏ và cho các tiểu thương thuê buôn bán. 















Thương xá Tax sẽ thành cao ốc phức hợp 40 tầng


(Dân trí) - UBND TPHCM đã yêu cầu các đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án Thương xá Tax. Theo đó, UBND quận 1 và Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (Satra) được giao đẩy nhanh tiến độ bồi thường, giải phóng mặt bằng, đầu tư cho dự án này.

Tòa nhà Thương xá Tax sắp bị đập bỏ để xây dựng cao ốc 40 tầng.
Tòa nhà Thương xá Tax sắp bị đập bỏ để xây dựng cao ốc 40 tầng.
Cụ thể, từ năm 2010, UBND TP đã giao cho Satra làm chủ đầu tư dự án xây dựng Trung tâm Thương mại - Dịch vụ - Văn phòng - Khách sạn tại khu đất số 39 đường Lê Lợi (quận 1), rộng 9.208 m2. Khu đất này chính là vị trí hiện hữu của Thương xá Tax do Satra quản lý.
Theo kiết kế, dự án cao ốc mới này cao 40 tầng (khoảng 150m), chưa kể 4 tầng hầm với chức năng để xe. Ban đầu, chủ đầu tư còn dự kiến xây dựng sân bay trực thăng trên tầng cao nhất của toà nhà này nhưng sau kế hoạch bị phá sản vì không được cơ quan chức năng cho phép.
Dự kiến tổng mức đầu tư dự án khoảng 150 triệu USD, Satra được phép tìm đối tác để hợp tác triển khai dự án. Tuy nhiên, vì nhiều lý do nên dự án bị tạm hoãn nhiều lần đến nay vẫn chưa khởi động được.
Trong khi đó, tiến độ xây dựng dự án đường sắt đô thị tuyến Bến Thành – Suối Tiên (Metro số 1) có 1 đoạn đi qua phần đường trước mặt Thương xá Tax đã bắt đầu triển khai. Trong kế hoạch, phần tầng hầm dự án cao ốc tại đây cũng sẽ kết nối với nhà ga ngầm của Metro số 1 nên bắt buộc cả 2 dự án phải triển khai đồng bộ.
Vì vậy, UBND TP hối thúc Satra và UBND quận 1 đẩy nhanh tiến độ di dời dân cư, giải phóng mặt bằng tại khu đất này để lấy mặt bằng đầu tư xây dựng cao ốc mới cho phù hợp tiến độ của Metro số 1. UBND TP cũng yêu cầu các đơn vị liên quan khi lập và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án cần lưu ý đến các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các hộ dân tại khu vực.
UBND TP yêu cầu chủ đầu tư đến đầu năm 2015 phải bắt đầu khởi công dự án, dẹp bỏ Thương xá Tax cũ để xây cao ốc 40 tầng. Do đó, đơn vị quản lý Thương xá Tax đã yêu cầu tiểu thương kinh doanh tại đây phải di dời trước tháng 10/2014.
Hiện khoảng 200 tiểu thương tại Thương xá Tax đang hạ giá, thanh lý hàng hóa tại đây cho kịp tiến độ di dời. Đơn vị quản lý Thương xá Tax cũng hướng dẫn tiểu thương có nguyện vọng tiếp tục kinh doanh dời về số C6 Phạm Hùng (quận 8) hoặc Siêu thị Sài Gòn (quận 10).
Với yêu cầu phát triển theo quy hoạch của thành phố, sau việc hàng loạt cây xanh trăm tuổi ở khu trung tâm đã bị "đốn hạ",  nay thương xá Tax tiếp tục rơi vào quy hoạch, sắp bị dẹp bỏ. Điều này đã khiến nhiều người dân sống lâu đời ở TPHCM không khỏi có tâm trạng nuối tiếc bởi Thương xá Tax là 1 công trình kiến trúc lâu đời, gắn liền với lịch sử phát triển của Sài Gòn - TPHCM.
Tùng Nguyên

Thứ Ba, 12 tháng 8, 2014


Đường D'Arfeuille
ĐƯỜNG NGUYỄN ĐÌNH CHIỀU, TÂN ĐỊNH



                 
          Con đường này bắt đầu từ ngả ba Hai Bà Trưng và kết thúc tại giao lộ Trương Minh Giảng - Hiền Vương. Đây là một đoạn đường ngắn. Sau 30 tháng 4 năm 1975, nó đã bị lấy mất tên để đặt cho đường Phan Đình Phùng và trám vào đó là tên Trần Quốc Toản lấy của con đường đi qua quận 11, quận 10 và quận 3 từ bùng binh Cây Gõ đến công trường Dân Chủ để thế vào đó là tên 3 tháng 2. Đường này vào năm 1906 thời Pháp thuộc được đặt tên là D'Arfeuille (Mourin d’Arfeuille , Charles Hippolyte Marie, 1837-1909) là tên một sĩ quan hải quân Pháp. Thời VNCH đường được đổi tên là Nguyễn Đình Chiểu. Hiện giờ con đường tôi kiếm trên mạng không có hình ảnh nào về nó chỉ có hai tấm hình; một là đoạn đầu đường, một cuối đoạn đường.
         

                                            Đoạn đầu đường Nguyễn Đình Chiểu





                   Đoạn đầu giáp chợ Tân Định, hai bên đường có hai quán bán đồ ăn của người Hoa, trong đó tôi nhớ có một tiệm chuyên bán phá lấu. Đi tới một đoạn bên phải đường là trường Trần Lục. Trước năm 1975 nơi đây có lớp bình dân học vụ dạy về điện lạnh và điện nhà. Đối diện ta có tiệm bán xe đạp và phụ tùng cũng của người Hoa. Tới nữa có ngả ba Huỳnh Tịnh Của - Nguyễn Đình Chiểu, bên góc phải là trưởng tiểu học Đồ Chiểu. Qua đường có một biệt thự, tôi nhớ vào năm 1983 có anh Bình trước ở tại đây sau là việt kiều có về VN quay video chương trình hội diễn ca múa nhạc ở nhà Hát lớn (trụ sở Ha Nghị viện cũ). Anh quay bằng chiếc camera mà lúc đó ở VN chưa có. 


Trưởng tiểu học Đồ Chiểu giờ là trường Nguyễn Thị Diệu

                       Bên trái có một con đường hẽm ăn thông qua ngả sau nhà thờ Tân Định và trước trường Lasan Đức Minh trước khi đi ra giao lộ Hiền Vương - Duy Tân. Kê bên hẽm có căn nhà của ban nhạc trẻ The Peanut Company. Ra đời năm 1967 tại Sài Gòn với 4 thành viên là anh em ruột trong gia đình gồm Bernard Tâm (guitar solo, ca sĩ, có biệt tài chơi đàn bằng răng), Francois Thiện (trống), Michel Chí (guitar bass, ca sĩ) và Patrick Trung (keyboards, ca sĩ). Trong suốt 2 thập niên 60 - 70, Peanut là 1 trong 2 ban nhạc chơi rock nổi tiếng nhất Sài Gòn và sau năm 1975 đổi tên là Sao Sáng.


Ban nhạc Peanut trình diễn tại khách sạn Palace Saigon


Depot rác hông viện Pasteur

                    Đi tới một chút là ngả ba Pasteur - Nguyễn Đình Chiểu, Bên trái là khu phở Pasteur nổi tiếng, bên phải là trường Anh văn Khải Minh nằm trong hẽm lớn. Qua ngả ba bên trái là hông của viện Pasteur kéo dài tới ngả tư Công Lý - Nguyễn Đình Chiểu. Còn bên phải ta có công ty vận tải Cosara của Phạm Hòe. Qua ngả tư là khu vực của các nhân viên tình báo cao cấp Mỹ. Khu này đã bị chận bằng các cổng ra vào tại đường Đoàn Công Bữu, đoạn Nguyễn Đình Chiểu - Công Lý và Nguyễn Đình Chiểu - Trương Minh Giảng từ những năm 70 vì lý do an ninh. Trong khu vực này có các nhà dân, một building của Mỹ dài tới ngả ba Đoàn Công Bữu. Góc ngả ba này có cô nhi viện An Lạc đây là một cô nhi viện do Mỹ bảo trợ. Những ngày cuối cùng của tháng tư năm 1975 các cô nhi ở đây được Mỹ không vận đem đi. qua ngả ba này bên tay trái là một khu nghỉ của các linh mục, bên phải là biệt thự của vợ chồng Nguyễn Xuân Oánh - Thẫm Thúy Hằng. Kế bên là nhà in của báo tin sáng của Tôn Thất Đính.


Ngã tư Nguyễn Đình Chiểu - Công Lý


Logo hãng xe Cosara Phạm Hòe




Đường Đoàn Công Bữu


                  Cuối cùng là giao lộ Trương Minh Giảng - Hiền Vương, bên phải là một building của Mỹ, trước mặt bên kia đường là kho bãi của quân đội Mỹ trước đó là sân mayer.



Giao lộ Nguyễn Đình Chiểu - Trương Minh Giảng ( Trần Quốc Toản - Trần Quốc Thảo) hiện nay


MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ CUỘC HỌP MẶT

LQD64 Grand Reunion in California, July 2014.

View More: http://amuglytiger.pass.us/untitled-export-5
mix1
Dân LQD64 có những trò chơi ngộ nghĩnh như “chuyền bong bóng”. Người chơi phải dùng đùi kẹp bong bóng, đem tới cho để lên đùi của người thứ 2, và sau đó dùng sức đè cho bể bong bóng …
View More: http://amuglytiger.pass.us/untitled-export-5
Bắt đầu …
View More: http://amuglytiger.pass.us/untitled-export-5
Quay lại để chuẩn bị giao …
View More: http://amuglytiger.pass.us/untitled-export-5
Giao bóng …
View More: http://amuglytiger.pass.us/untitled-export-5
Và ráng đè thật mạnh cho bể bóng …!
View More: http://amuglytiger.pass.us/untitled-export-5
Thầy Phương cùng một số dân LQD63 (cũng theo chung vui với LQD64)
View More: http://amuglytiger.pass.us/untitled-export-5

Thư gởi những người bạn cũ …


                 Hôm nay là đã 8 ngày từ hôm gặp lại bạn ở LQD Reunion 8/2/2014.
             Tôi về lại nhà ngày thứ hai tuần rồi , trở về với công việc và bổn phận hàng ngày mà sao vẫn nghe như có tiếng cười của bạn đâu đây . Nhớ khuôn mặt vui tươi của bạn khi nhắc lại một chuyện xưa , nhớ câu trêu chọc dí dỏm của bạn khi gặp lại người bạn trai cùng lớp ! Mỗi một lần họp mặt như vầy lại càng quý mến , thương nhau nhiều hơn ! Năm nay thấy đuôi mắt bạn có thêm vài nếp nhăn , giọng cười của bạn đã kém trong hơn lần trước …. Thời gian đã để lại dấu hằn trên gương mặt bạn và tôi …nhưng thời gian đã không lay chuyển được tình bạn quý báu của chúng mình , nếu có thì cũng chỉ là khiến cho tình bạn của mình thêm keo sơn gắn bó !
              Tôi muốn viết thư này để cám ơn bạn đã là bạn của tôi bấy nhiêu năm nay , tính từ năm tôi vào học Lê Quý Đôn năm 1967 thì đã hơn 47 năm mình là bạn của nhau !
Nhìn bạn bận rộn đi tới đi lui ngày hôm Họp mặt với cây bút một tay , còn tay kia nào là danh sách xếp bàn , giờ giấc chương trình …. Bạn nói chuyện với người này , nhắc nhở người kia … Kiểm soát xem Khách sạn có trang hoàng đúng như cái plan bạn dặn …. Bạn làm tất cả với một con mắt đỏ .. Ôm bạn mà tôi vừa cảm động vừa xót xa vô cùng . Mong sao bạn giữ mãi được nét thanh xuân và tính năng động , vì bạn bè mà cáng đáng bao nhiêu là công việc !
Rồi có bạn khi làm việc chung có khi bất đồng ý kiến , nhiều khi bực vì cái độc tài cứng nhắc của bạn , nhưng khi thấy bạn đăm chiêu ngồi một mình im lặng trong khi bạn bè xung quanh gặp nhau chào hỏi nói cười rộn rả ! Hoá ra bạn đang cố gắng làm cho xong cái Slide show nhớ về những Thầy Cô bạn bè đã ra đi , mệt mỏi vì phải ôm đồm nhiều việc hay cảm xúc khi nhớ đến những người xưa .., thấy bạn như cô độc giữa gian phòng rộng lớn đông người !
Hay như chủ nhật vừa rồi , sáng sớm ra Công viên nơi tổ chức Picnic , thấy bạn một mình ngồi trong căn chòi vắng chờ đón bạn bè … Nét mỏi mệt hiện rõ trên mặt bạn , hôm trước đã vất vả cho ngày Reunion , sáng nay thức sớm ra đây …chờ bạn …. Bao nhiêu giận hờn bực bội trong tôi tan biến mất … thay vào đó là lòng biết ơn bạn đã vì bạn bè không nề hà cực khổ !
Lại có bạn sao mãi đến giờ khai mạc rồi mà vẫn không thấy đến ? Tự hỏi bạn sao có thể không muốn gặp lại bạn cũ sao ? Cuối cùng khi tiệc đã sắp tàn bạn đến với một gương mặt hốc hac bơ phờ … Hoá ra người thân yêu bệnh nặng phải chăm sóc , chờ người ấy ngũ yên bạn cố gắng đến với chúng tôi cho trọn nghĩa tình ! Ôm bạn chào mừng và vỗ vai bạn an ủi mà tôi nghe mắt cay cay … thương bạn và cảm động với tình bạn bao nhiêu năm thăng trầm của mình !
           Có bạn từ Australia xa ngàn dặm bay qua , phút đầu bước vào nhìn bạn ngơ ngác vì đông người quá và lâu lắm rồi bạn mới gặp lại những người năm xưa … Ấy vậy mà chỉ một lát sau thôi ký ức tuổi thơ trở về và bạn nói cười vui đùa giống y như những ngày còn trong lớp học hay sân trường cũ !
           Tôi viết thư này chỉ muốn nói với bạn lời cám ơn bạn đã cùng đi với tôi một đoạn dài trong cuộc đời này .
            Mỗi lần họp mặt trở về tôi như được tiếp thêm năng lực cho cuộc sống . Nụ cười của bạn , lời chia sẻ an ủi của bạn đã giúp tôi đi tiếp con đường của mình ! Dù xa cách bao nhiêu vẫn biết đâu đó có người bạn vẫn ủng hộ thương mến mình !
             Thôi nhé bạn , thư đã dài , tôi xin dừng bút .
             Hẹn bạn lần sau , mong bạn luôn được bình an .
                                                                                                            
                                                                                                   Người bạn cũ .
                                                                                              August 10th, 2014
                                                                                          Trần Kim Chi (LQD59)

                                                             Kim Chi ngày xa xưa ấy










Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2014

HỌP MẶT  THẦY CÔ  VÀ CỰU HỌC SINH TRƯỜNG
 LÊ QUÝ ĐÔN NĂM 2014 TẠI NHÀ HÀNG LE TROCOPE (PHÁP)

Tôi mới vừa nhận được những hình của bạn Bùi Khương Bội Hoàn lớp 9/8 năm 1975 từ Pháp chuyển về ghi lại buổi họp mặt các thầy cô và cựu học sinh trường Lê Quý Đôn tại Pháp. Trong trang blog này tôi chỉ đưa lên một vài hình nếu các bạn muốn xem hết cứ theo đường link sau đây mở ra xem: 


Hoặc:





  Tết Sài Gòn trăm năm trước ra sao?   Biết những gì xảy ra trong quá khứ xa xưa dường như là mơ ước muôn đời của con người. Bởi trong c...