Thứ Năm, 21 tháng 2, 2013

 Sài Gòn chỉ còn trong nỗi nhớ (tiếp theo)

Tôi gởi đến các bạn bài viết về vùng Đa Kao của Lâm Vĩnh Thế. Bài này dành cho những bạn đã một thời sinh sống ở nơi đây.

ĐaKao: Một Trung Tâm Văn Hóa
Lâm Vĩnh Thế


Trưc năm 1975, vùng Đakao thuc Qun I của thủ đô Sài Gòn. Trong thi Pháp thuc, vùng này có tên là Đất Hộ. Tuy hiện nay chưa có những tài liệu nghiên cứu nghiêm chĩnh và có hệ thống về lịch sử của vùng đất nầy khiến ta không rõ về nguồn gốc của địa danh nhưng có thể khẳng định đây là một trong những vùng đất được khai thác từ lâu đời nhất của Saigon, có lẻ đã trên một trăm năm. Một bằng chứng cụ thể là Chùa Ngọc Hoàng, ở đường Phạm Đăng Hưng, theo sách "Saigon Năm Xưa" của cố học giả Vương Hồng Sển, nguyên Giám Đốc Viện Bảo Tàng Saigon, đã được xây cất từ năm 1905. Điều nầy có thể giải thích phần nào do vị trí nằm sát Rạch Thị Nghè, một nhánh của Sông Saigon, một trục giao thông quan trọng, nhất là trong giai đoạn mới bắt đầu khai thác của thực dân Pháp.  Với vị thế là một vùng đất xưa, Đakao đã có một đời sống văn hóa khá đậm nét về nhiều mặt. Một điều đặc biệt cần lưu ý là khu Đakao, so với phần lớn những khu vực khác trong thành phố Saigon, có một mật độ rất cao về cơ sở văn hóa.

Các Cơ  Sở Giáo Dục

Trước hết xin nói về các cơ sở của Bộ Giáo Dục. Hầu hết các bộ phận đầu nảo của Bộ đều tọa lạc trong khu Đakao. Trụ sở của Bộ Giáo Dục, với các bộ phận trực thuộc như Nha Du Học, Nha Kế Hoạch, đều nằm tại khu vực ngả tư Lê Thánh Tôn và Hai Bà Trưng. Hai bộ phận khác cũng rất quantrọng của Bộ là Tổng Nha Trung, Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục, và Nha Khảo Thí đều tọa lạc tại đường Nguyễn Bĩnh Khiêm, đối diện với Sở Thú. Nha Kỹ Thuật và Mỹ Thuật Học Vụ thì được đặt tại đường Mạc Đĩnh Chi, đối diện với Nha Khí Tượng. Ty Tiểu Học Saigon thì nằm trong khuôn viên của Trường Nữ Tiểu Học Đakao, trên đường Phan Đình Phùng, đối diện với Phòng Thí Nghiệm Vi Trùng Học.
Về các trường đại học, sau cuộc đão chánh 1-11-1963, thành Cộng Hòa, nơi đồn trú của Lữ Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống, đã được biến thành trụ sở của hai trường Văn Khoa và Dược Khoa. Về sau Trường Nông Lâm Súc cũng được đưa về đây luôn. Hai Trường Luật Khoa, nằm trên đường Duy Tân, và Kiến Trúc, nằm gần ngả tư Duy Tân và Phan Đình Phùng, cũng như trụ sở của Viện Đại Học Saigon, nằm ngay tại Công Trường Chiến Sĩ (mà sau năm 1975 dân chúng Saigon thường gọi là Hồ Con Rùa), bên cạnh trường Luật Khoa, cũng có thể xem là thuộc khu Đakao.

 


Thành Cộng Hòa, đường Cường Để với các trường đại học. Trước đảo chính 1/11/1963 không có đoạn đường này




Ngả tư Hồng Thập Tự-Đinh Tiên Hòang cạnh đài truyền hình

Về các trường trung học công lập, thì phải kể ngay đến trường nam Võ Trường Toản, và trường nữ Trưng Vương, nằm ngay bên cạnh Tổng Nha Trung, Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục. Trong thời Pháp thuộc, tại địa điểm nầy là Ecole Normale (Trường Sư Phạm) đào tạo giáo viên tiểu học cho cả Nam Kỳ. Cả hai trường Võ Trường Toản và Trưng Vương đều là trường trung học đệ nhị cấp (sau 1975, chính quyền mới gọi là trường phổ thông cấp ba), dạy đến lớp đệ nhứt, tức là lớp đi thi bằng cấp Tú Tài II. Ngoài ra, tại đường Hồng Thập Tự, ngó ngay ra ngả ba với đường Phùng Khắc Khoan, từ thập niên 60 trở đi, ta còn thấy có trường Trung Học Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ.  Trường nầy chỉ là một trường trung học đệ nhất cấp mà thôi.
Về các trường trung học tư thục, thì khu Đakao tập trung phần lớn các trường nổi tiếng của Saigon. Vào đầu thập niên 50, khi chương trình Pháp vẩn còn được giảng dạy song song với chương trình Việt, thì phải kể đến hai trường quan trọng là trường Vương Gia Cần, nằm trong một biệt thự có lầu ở đường Phan Thanh Giản, đối diện với ngả ba Phan Kế Bính, và trường Les Lauriers, ở đường Mạc Đĩnh Chi, giữa ngả ba Phan Thanh Giản và ngả tư Tự Đức, sau dời về đường Đinh Công Tráng, gần ngả ba Lý Trần Quán, và đổi tên là trường Tân Thịnh. Các trường dạy chuyên về chương trình Việt thì quan trọng nhứt phải kể đến trường Huỳnh Khương Ninh, nằm trên đường D'Ariès, gần đầu ngả ba với đường Paulin Vial. Trường nầy có từ rất lâu đời, gồm một dãy nhà hai tầng khang trang, dạy cả tiểu học và trung học, điều hành bởi một ban giám đốc và giảng huấn có khả năng, tận tâm và yêu nghề, và đặc biệt là có tinh thần yêu nước cao. Chính vì thế, trong thời Pháp thuộc, trường nầy đã là mục tiêu theo dõi thường xuyên của mật thám Pháp. Sang thời Cộng Hòa, trường nầy cũng lại là nơi tập trung một số cán bộ đảng viên của đảng Cộng Sản, nên cũng vẫn tiếp tục bị theo dõi nghiêm nhặt bởi Tổng Nha Cảnh Sát. Sau ngày 30-4-1975, vị  Hiệu Trưởng của trường nầy đã được chính quyền quân quản đề cử làm Giám Đốc đầu tiên của Sở Giáo Dục Thành phố Hồ Chí Minh. Kế đến là các trường Huỳnh Thị Ngà, ở đường Trần Nhật Duật, và trường Việt Nam Học Đường, ở cuối đường Đặng Tất. Sau thập niên 60, thì có thêm hai trường là trường Văn Hiến, ở đường Trần Quang Khải, gần rạp chớp bóng Văn Hoa, và trường Tân Thanh, ở đường Trần Quý Khoách, sau lưng trường Việt Nam Học Đường. Một trường trung học tư thục nữa ở Đakao là trường Đông Tây Học Đường, nằm ở đường Hai Bà Trưng, đối diện với ngả ba đường Tự Đức. Trường nầy chỉ sống được mấy năm vì ít học sinh và vì kết quả giáo dục tương đối kém nên không cạnh tranh nổi với các trường tư thục khác trong vùng. Ngoài ra cũng phải kể đến trường chuyên dạy Anh ngữ đầu tiên của Saigon là Trường Anh ngữ Trần Gia Độ, nằm trên đường Phạm Đăng Hưng, gần chùa Ngọc Hoàng (về sau là địa điểm của Vỏ dường Nhu đạo của Thích Tọa Thích Tâm Giác).  Tất cả các trường trung học tư thục nầy, dù nhiều dù ít, đều đã có những đóng góp quan trọng vào việc giáo dục thanh thiếu niên ở cấp trung học trong một thời gian dài, nhất là trong thập niên 50 (trước 19540) vì lúc đó tại Saigon chỉ có một trường trung học công lập duy nhất là Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký ở mải tận trong khu Nancy, gần Chợ Lớn. Tất cả học sinh Saigon, sau khi thi đậu bằng Tiểu Học, đều phải trải qua kỳ thi tuyển vào trường Pétrus Ký. Năm 1953 khi tôi tham dự kỳ thi tuyển nầy, trường Pétrus Ký chỉ lấy vào 550 học sinh cho 10 lớp Đệ Thất. Những học sinh rớt kỳ thi tuyển nầy không còn cách nào khác hơn là phải theo học tại các trường trung học tư thục.
      Về các trường tiểu học công lập, khu Đakao có hai trường, trường nam nằm trên đường Đinh Tiên Hoàng, giữa hai đường Tự Đức và Nguyễn Thành Ý, và trường nữ, nằm trên đường Phan Đình Phùng, cùng một địa điểm với Ty Tiểu Học Saigon. Tôi theo học trường nam suốt bậc tiểu học, cho đến khi thi đậu vào trường Trung Học Pétrus Trương Vĩnh Ký, nên đã có rất nhiều kỹ niệm với ngôi trường nầy. Tôi xin mở dấu ngoặc ở đây để nói thêm vài điều về giáo dục tiểu học và ngôi trường nầy. Chương trình giáo dục tiểu học lúc đó đã được chuyễn ngữ, dùng tiếng Việt để giảng dạy, nhưng vẩn còn phải học môn Pháp văn. Tên gọi của các cấp lớp đều dùng cả hai ngôn ngữ: Lớp Năm (nôm na gọi là Lớp Chót) - Cours Enfantin, Lớp Tư - Cours Préparatoire, Lớp Ba - Cours Élementaire, Lớp Nhì - Cours Moyen, Lớp Nhứt - Cours Supérieur, và Lớp Tiếp Liên - Cours Certifié. Về thi cử, hết Lớp Ba thì phải qua một kỳ thi lấy văn bằng Sơ Đẳng Tiểu Học, đậu thì mới được lên Lớp Nhì. Hết Lớp Nhứt thì phải đi thi lấy văn bằng Tiểu Học. Đậu bằng Tiểu Học rồi thì mới được làm đơn xin dự kỳ thi tuyển vào Lớp Đệ Thất của trường Trung Học Pétrus Ký.  Những người thi rớt kỳ thi tuyển nầy, muốn năm sau thi lại, thì xin vào học Lớp Tiếp Liên. Trong thời gian tôi theo học, trường nam Tiểu Học Đakao có 2 lớp cho mổi cấp, trừ cấp Tiếp Liên chỉ có một lớp thôi. Xin đóng dấu ngoặc lại ở đây.
      Về các trường tiểu học tư thục, khu Đakao có rất nhiều cơ sở như thế nhưng tôi không còn nhớ được hết, nên chỉ xin kể ra đây những trường tôi còn nhớ được. Trường đầu tiên tôi muốn nói đến là trường Quốc Học, không phải vì nó là trường lớn nhứt hay quan trọng nhứt mà chỉ vì đó là ngôi trường tôi theo học đầu tiên trong đời. Đó là cuối năm 1947, tôi mới được 6 tuổi, mẹ tôi đóng tiền cho tôi vào học Lớp Chót tại trường nầy để chuẩn bị cho tôi năm sau sẽ xin vào trường Tiểu Học Đakao. Ngôi trường nầy nằm ở đường Legrand de la Liraye (sau gọi là đường Phan Thanh Giản), gần ngả tư với đường Albert 1er (Đinh Tiên Hoàng), ngay đằng sau tiệm hủ tiếu của người Hoa ở ngả tư nầy. Trường nầy chỉ là một căn phố và có 3 lớp mà thôi, một Lớp Chót, một Lớp Tư và một Lớp Ba. Tôi theo học tại trường nầy độ 5 hay 6 tháng gì đó mà thôi, đủ để biết đọc, biết viết, và thuộc cữu chương. Sau trường nầy thì phải kể đến các trường nằm trên đường Paul Bert (Trần Quang Khải) mà tôi chỉ còn nhớ tên được một trường mà thôi, đó là trường Lễ Văn (chắc là đặt tên theo câu Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn). Từ cuối thập niên 50 trở đi, mới thấy xuất hiện các trường Mẫu Giáo, và khu Đakao cũng có hai cơ sở lớn và nổi tiếng, đó là Trường Michelet, sau đổi tên là Rạng Đông, ở đường Hiền Vương, gần ngả ba Lý Trần Quán, và Trường Mạnh Mẫu, nằm trong đường Lý Trần Quán.

Các Cơ Sở Tôn Giáo

Song song với cơ sở giáo dục như vừa kể qua ở trên, các cơ sở tôn giáo trong vùng mới chính thật là nét văn hóa đặc thù của khu Đakao. 
Trước hết xin nói về các ngôi đình.  Tôi tin rằng trong toàn thành phố Saigon không có khu vực nào có nhiều đình như khu Đakao và tập trung trong một diện tích nhỏ hẹp như vậy. 
Nội trên đường Trần Quang Khải thôi ta đã có đến 4 ngôi đình.  Ở khoảng đầu đường, đi vào từ ngả tư với đường Đinh Tiên Hoàng, bên phải có một ngôi đình mà tôi không còn nhớ tên, ngôi đình nầy bề ngoài trông như một căn phố, không có sân; cách đó chừng mười lăm mét, bên tay trái là ngôi đình lớn nhứt trong toàn khu Đakao, đó là đình Nam Chơn.  Đình nầy có sân rất rộng, có cả một cây đa cổ thụ ngay ở trước, phía bên trong vách tường bằng gạch ở mặt tiền.  Chính dưới bóng mát của cây đa nầy là các bàn hớt tóc mà tôi đã nhiu lđến ht tóc lúc còn nh.  Vào bên trong, toà nhà của đình với điện thờ nằm bên tay trái, phần còn lại là một khoảng sân đất rất rộng, đây là nơi dựng rạp khi cúng kỳ yên.  Rạp được dựng lên bằng vải và được sử dụng cho hai việc: ban ngày là nơi để cho khách đến cúng đình ngồi nghĩ uống nước, ghi sổ cúng tiền, và chờ đợi đến phiên mình vào lể khi bên trong điện đã quá chật, ban đêm trở thành rạp hát để trình diển các vở tuồng hát bội.  Sau đình Nam Chơn, ra đến gần ngả ba với đường Nguyễn Phi Khanh, bên tay phải lại có một ngôi đình nhỏ nữa, tôi cũng không nhớ tên ngôi đình nầy, chỉ nhớ ngôi đình nằm bên cạnh một con hẽm nhỏ, và là nơi đóng đô thường trực của một đoàn hát bội nhỏ.  Qua khỏi ngả ba Nguyễn Phi Khanh, tại ngay ngả ba với đường Bà Lê Chân, là đình Phú Hòa, với cửa vào quay ra đường Bà Lê Chân, chính tại đây có quán cà phê của nghệ sĩ cải lương lừng danh Bảy Nhiêu.  Đình Phú Hòa thường được các đoàn cải lương lớn dùng làm nơi tập tuồng mới. 
Trên đường Nguyễn Phi Khanh, ngay ngả ba với đường Huyền Quan, gần ra tới ngả ba với đường Trần Quang Khải, cũng có một ngôi đình lớn là đình Sơn Trà.  Đình nầy chỉ nhỏ hơn đình Nam Chơn thôi, phía trước và dọc theo cạnh đường Huyền Quan là hàng rào cây sống.  Trước mặt tiền của điện thờ cũng là một sân đất lớn và, cũng như đình Nam Chơn, đây là nơi dựng rạp trong các dịp cúng kỳ yên.  Chính tại ngôi đình nầy tôi đã được mẹ tôi cho đi theo để coi những vở tuồng hát bội nổi tiếng của thời đó như tuồng San Hậu, Huê Dung Đạo, Thần Nữ Dưng Ngủ Linh Kỳ, Trãm Trịnh Ân..., với các cô đào hát bội một thời vang bóng như Cô Năm Đồ, Cô Cao Long Ngà ... Tôi còn nhớ mãi cái không khí ngột ngạt của các đêm hát bội tại đây.  Rạp bằng vải bố, che không cao lắm, bên trong rạp rất chật, và nóng bức.  Sân khấu bằng gổ cũng không cao lắm, và gần như lúc nào cách bài trí cũng giống nhau, dầu là cảnh nhà dân, nhà quan, hay cung vua, cũng chỉ thấy có một cái bàn với hai cái ghế để ở hai bên, cả bàn và ghế đều có tấm phủ mầu sắc đẹp.  Ngay đưới sân khấu, chỉ có hai hay ba hàng đầu là để ghế, các hàng còn lại toàn là băng gổ.  Ngay trước cái ghế ở chính giữa hàng ghế đầu có để một cái trống lớn, và người ngồi ở cái ghế đó thỉnh thoảng cầm cây chầu đánh vào trống mấy cái thùng thùng. Về sau lớn lên tôi mới biết đó là một vị chức sắc trong đình có nhiệm vụ "cầm chầu" để làm cái việc đánh giá cách trình diển của các nghệ sĩ trên sân khấu.  Thỉnh thoảng người đi xem cũng tham gia vào việc tán thưởng các nghệ sĩ bằng tiền, họ kẹp tiền vào các cây quạt xếp bằng giấy và liệng quạt lên sân khấu.  Đoàn hát luôn luôn có người phụ trách đi lượm các cây quạt, gở tiền ra và mang quạt không trả lại cho khán giả.        
Trên đường Nguyễn Bĩnh Khiêm, ngay ngả tư với đường Tự Đức, là đình Tân An, cũng là nơi đóng quân của một đoàn cải lương nhỏ.  Tôi không có kỹ niệm gì về ngôi đình nầy.
Ngoài ra khu Dakao còn cái đình nhỏ nữa.  Đình nầy nằm trong một con hẽm trổ ra gần nơi đường Đinh Tiên Hoàng gặp đường Hiền Vương.  Con hẽm nầy ăn thông ra đến đường Huỳnh Khương Ninh.  Tôi không còn nhớ tên ngôi đình nầy.
Như thế là trong một khu vực với diện tích chưa tới một cây số vuông, ta có tất cả 7 ngôi đình.  Nếu tính theo đường chim bay, hai ngôi đình lớn nhứt trong khu Đakao, đình Nam Chơn và đình Sơn Trà, cách nhau chưa tới hai trăm mét. Hồi còn nhỏ tôi hoàn toàn không nghĩ gì về mật độ tập trung nầy của các ngôi đình trong vùng.  Về sau lớn lên, nhất là tôi lại học về ngành sử, nét văn hóa đặc thù nầy làm tôi thấy thắc mắc nhiều.  Vì thông thường mổi làng chỉ có một ngôi đình mà thôi, làm nơi thờ thành hoàng bổn cảnh .  Làng ở trong Nam lại thông thường có diện tích rất lớn.  Thật khó tin là khu vực nhỏ bé nầy của Đakao, nơi quy tụ bảy ngôi đình nầy, ngày xưa là địa hạt của bảy cái làng.  Nhưng nếu không phải như vậy thì tại sao lại có tới bảy cái đình.  Tôi đã có dự định làm một cuộc nghiên cứu về các ngôi đình nầy để tìm câu trả lời nhưng chưa bao giờ làm được vì nhiều lý do ngoài ý muốn.  Cho đến một hôm vào khoảng cuối năm 1974, rất tình cờ, thắc mắc nầy của tôi đã được giải đáp một phần nào.  Hôm đó tôi đi họp ủy ban tại trụ sở của Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục (HĐVHGD) ở đường Trần Quý Khoách mà tôi là một thành viên.  Trong khi chờ họp, tôi ngồi trò chuyện với cụ Đổ Văn Rở, Thứ Trưởng Bộ Văn Hoá Giáo Dục Đặc Trách Văn Hóa,  Phó Chủ Tịch Văn Hóa của HĐVHGD (ở nhiệm kỳ 2 nầy của HĐVHGD, 1974-1977, Chủ Tịch HĐVHGD là Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, Phó Chủ Tịch Giáo Dục của Hội Đồng là Giáo Sư Trần Văn Tấn, Khoa Trưởng Đại Học Sư Phạm Saigon).  Tôi không còn nhớ chúng tôi đã khởi đầu câu chuyện như thế nào nhưng sau một hồi thì câu chuyện xoay quanh các ngôi đình của vùng Đakao.  Tôi chợt nhớ lại thắc mắc của mình nên đem vấn đề ra hỏi cụ Rở.  Không suy nghĩ gì cả, cụ nói ngay ý nghĩ của cụ ra cho tôi nghe, và tôi nhận thấy cụ rất có lý, và đây có thể là mấu chốt của vấn đề.  Theo cụ Rở, những người đã dựng lên các ngôi đình nầy là những di dân thuộc các làng chài lưới đánh cá từ miền nam Trung phần vào.  Tiếng địa phương gọi các làng chài nầy là các Vạn.  Vào đây rồi, khi đã ổn định thì họ lập đình để tiếp tục thờ cúng các vị thành hoàng của họ.  Mổi Vạn đều có thành hoàng riêng nên bắt buộc họ phải lập đình riêng.  Đó là lý do tại sao có quá nhiều đình trong môt phạm vi nhỏ hẹp như thế.  Cụ Rở đưa ra bằng chứng là ngay tại vùng Đakao nầy có một xóm gọi là Xóm Vạn Chài.  Xóm nầy nằm sát bờ Rạch Thị Nghè, ngay phía sau khu vực trường Văn Hiến và rạp chớp bóng Văn Hoa ở đường Trần Quang Khải sau nầy, gần như đối diện với đình Nam Chơn, và cũng không cách đình Sơn Trà bao xa.  Cho tới thập niên 50, lúc tôi còn nhỏ, xóm nầy vẩn còn mang tên là Xóm Vạn Chài.  Lý luận và bằng chứng cụ Rở đưa ra khá vững, tôi nghĩ là bước kế tiếp cần thực hiện là nghiên cứu các thần sắc (nếu còn) thờ trong các ngôi đình nầy, chắc chắn ta sẽ tìm được gốc tích của những người đầu tiên đã lập ra các ngôi đình nầy.  Trong thâm tâm tôi tin rằng thuyết của cụ Rở là đúng.
Sau các ngôi đình, các cơ sở tôn giáo quan trọng khác của khu Đakao là chùa Cô Hồn ở đường Trần Quang Khải, chùa Ngọc Hoàng ở đường Phạm Đăng Hưng và Đền thờ Đức Trần Hưng Đạo ở đường Hiền Vương.  Trong ba cơ sở nầy, chùa Ngọc Hoàng là cổ nhứt.  Ngay trong thập niên 50 lúc tôi còn nhỏ thì chùa nầy đã có được nữa thế kỹ rồi.  Chùa Ngọc Hoàng có cơ sở khá lớn, cổng gạch, sân rộng và dài, lối đi lát gạch, bên trong sân có nhiều cây cối.  Vào hết phần sân ngoài rồi là lan can bằng gạch rồi đến phần sân trong hoàn toàn lát gạch, có nhiều cây kiểng, và đặc biệt ở góc bên tay phải có một hồ nhỏ nuôi rùa và cua đinh, mặt hồ hoàn toàn phủ rong xanh, vách và thành hồ bằng đá cũng đầy rong rêu, trông rất cổ kính.  Trước khi vào bên trong chùa, hai bên cửa có hai tượng Ông Thiện và Ông Ác to gần bằng người thật, đứng cầm gươm, màu sắc rực rỡ.  Bên trong chùa lúc nào cũng âm u và khói nhang nghi ngút, thú thật tôi chỉ dám đứng ở ngoài cửa nhìn vào mà thôi, chưa bao giờ tôi dám bước vào bên trong.  Tôi chỉ thích đứng chồm mình vào thành cái hồ ngoài sân để nhìn các chú rùa lâu lâu trồi lên mặt nước để thở.  Chùa Cô Hồn, cách không xa đình Phú Hòa, tuy gọi là chùa nhưng xem có vẻ giống cái đình nhiều hơn, không biết cất từ năm nào, có cổng gạch và sân gạch, về sau dường như có cho thuê phần sân để làm garage sửa xe hơi.  Chùa Cô Hồn thì tôi cũng có khá nhiều kỹ niệm.  Đó là nơi hàng năm vào dịp Rằm Tháng Bảy bọn con nít tụi tôi kéo tới xem cúng cô hồn, xem tượng Ông Tiêu làm bằng hoa lá, với cái lưởi le dài ra, đỏ lòm trông đễ sợ, và cũng để chờ tiết mục hấp dẫn nhứt sau khi chùa cúng xong: đó là màn màn nhào vô giựt bánh trái, giựt tiền trong chùa liệng ra sân (gọi là thí cô hồn).  Bánh trái thì đủ loại, nào chuối, nào khoai, nào đậu phộng nấu, nào bánh cúng, bánh cấp, bánh in, bánh ít.  Còn tiền thì chỉ là bạc cắt, một cắt, hai cắt mà thôi.  Đền thờ Đức Thánh Trần là mới nhứt trong ba cơ sở tôn giáo nầy.  Đền được cất lên sau năm 1954, bên ngoài đường Hiền Vương nhìn vào tưởng như chỉ là một căn phố với cổng sắt cao.  Sau khi vào cổng rồi là một lối đi lát gạch, bề ngang chỉ rộng độ ba mét, dài độ hơn mười mét.  Cuối lối đi nầy khách viếng thăm đền sẽ ngạc nhiên vô cùng khi đối diện với một sân gạch rất rộng nằm xéo qua phía bên tay phải, sân nầy hình chữ nhựt, mổi cạnh dài có đến trên hai mươi mét.  Cuối sân đó là điện thờ, nền lát gạch bông luôn luôn sạch bóng và sơn son thếp vàng rực rỡ.  Hàng năm đến ngày húy của Đức Thánh thì đồng bào đến lể đông vô cùng, bên trong khói nhang nghi ngút và chiêng trống đánh vang rền.
Khu Đakao còn một cơ sở tôn giáo nữa, tuy nhỏ nhưng mang nhiều nét độc đáo.  Đó là Miểu Nổi.  Đây là tên của người địa phương đặt cho cơ sở tôn giáo nầy, tên chính thức của nó là gì thì tôi không biết vì chưa bao giờ nghe nói đến. Đặt tên như thế vì đây là một cái miểu cất trên một cái cù lao nhỏ trên rạch Thị Nghè (rạch Thị Nghè là tên gọi trên bản đồ, người địa phương thì gọi là sông Cầu Bông).  Có thể đến Miểu Nổi bằng hai cách, hoặc theo một con hẽm nhỏ ở đường Trần Quang Khải, đi xuyên qua hết khu xóm Vạn Chài, ra tới tận bờ sông rồi dùng đò qua miểu, hoặc đi xuyên qua trại cưa Trần Pháp, ở dưới dốc Cầu Bông, về phía bên Bà Chiểu, độ hơn 100 mét, ra bờ sông rồi cũng dùng đò qua miểu. Miểu là nơi thờ một vị Thánh Mẫu, dân trong vùng thường chỉ gọi là Bà, nên cũng có khi người ta gọi cơ sở tôn giáo nầy là Miểu Bà.  Dân chúng trong vùng tin là Bà rất linh thiêng, cầu xin gì cũng được, nên suốt năm lúc nào cũng có đông người đến cúng vái, và vì thế Miểu Nổi lúc nào cũng ở trong tình trạng được chăm sóc, sơn phết tươi tốt.
Về phần đạo Thiên Chúa, ngoài hai ngôi thánh đường lớn, tuy không xa khu Đakao, nhưng khó có thể gọi là thuộc khu Đakao, Nhà Thờ Đức Bà Saigon (về sau được Toà Thánh La Mã nâng cấp lên hàng Vương Cung Thánh Đường), và Nhà Thờ Tân Định, còn phải kể đến các cơ sở đào tạo tu sĩ nằm trong khu Đakao.  Đó là Đại Chũng Viện Saigon và nhà Dòng Tu Kín, cả hai cơ sở nầy đều nằm trên đường Cường Để.
Ngoài những cơ sở tôn giáo thuần túy như vừa trình bày ở trên, khu Đakao còn có Đền thờ Quốc Tổ trong Thảo Cầm Viên (người Saigon thường gọi là Sở Thú).  Sau khi vào cổng chính của Thảo Cầm Viên, nhìn sang phía tay phải ta thấy ngay đền thờ Quốc Tổ.  Ngôi đền nầy có kiến trúc rất độc đáo, vuông vức, mổi cạnh khoảng 10 mét, dựng trên một mô đất cao, với mái cong, lợp ngói âm dương rất đẹp.  Mổi phía đều có bậc thềm đá dẩn lên đền, hai bên thềm có lan can hình rồng đúc xi măng và sơn phết rất đẹp.  Ngay trước mặt chính của đền là sân lát gạch, ỡ giữa có một bia đá.  Nhìn từ phía chính diện vào trong đền, bên tay phải, các đền chừng 5 mét có một tượng voi bằng đồng đen, theo bảng đề bên cạnh thì tượng voi nầy là do Vua Cao Miên tặng vào dịp khánh thành Sở Thú.  Chung quanh đền, bốn phía đều có cửa bằng gổ quý.  Đền chỉ mở cửa cho khách viếng vào ngày Chúa Nhựt thôi.  Bên trong đền là điện thờ sắp xếp như trong các ngôi đình, chia làm ba gian, với các giá dựng binh khí bằng đồng bóng loáng.  Hàng năm cứ đến ngày Giổ Tổ Hùng Vương đều có tổ chức lể rất long trọng tại đây.

Các Cơ Sở Văn Hóa Khác

Ngoài các cơ sở giáo dục và tôn giáo vừa kể trên, khu Đakao còn có nhiều cơ sở văn hóa quan trọng khác. 
Trước hết, đáng kể nhứt là Thảo Cầm Viên Saigon, tức Sở Thú.  Tọa lạc trên một vùng đất rộng hàng chục mẫu, mặt tiền là đường Nguyễn Bĩnh Khiêm, một cạnh là đường Hồng Thập Tự, và mặt sau chạy dọc theo rạch Thị Nghè, Sở Thú là một trong những khu giải trí quan trọng của dân chúng Saigon, nhứt là vào ngày Chúa Nhựt.  Sở Thú thời Pháp thuộc gọi là Jardin Botanique (nghĩa là vườn bách thảo), sang thời Cộng Hòa đổi ra tên Việt, gọi là Thảo Cầm Viên, nhưng đối với người dân Saigon thì truớc sau vẩn gọi là Sở Thú. Theo ý kiến riêng của tôi thì cả ba tên gọi nầy, hai tên chính thức, một tên nôm na, đều không diển tả được hết nội dung của khu vườn nầy.  Tên Pháp thì hoàn toàn chỉ nói về cây cối là sai, vì trong vườn có nuôi rất nhiều loại thú khác nhau.  Tên Việt chính thức cũng không hoàn toàn đúng vì chỉ nói đến cây cối và chim, bỏ ra ngoài các loài thú.  Tên Việt nôm na thì chỉ nói tới thú, bỏ qua hết cây cối, bông hoa.  Tuy nhiên phải công nhận một điều là tên Sở Thú có vẻ sát với thực tế nhứt, vì phần đông khách vào Sở Thú là để xem thú nhiều hơn là xem cây cối.  Sau khi vào cổng chính, du khách sẽ thấy ngay trước mặt mình một con đường tráng nhựa rất rộng xe hơi có thể chạy được, chia làm hai đường, một đường để vào, một đường để ra, phần chính giữa còn khá rộng có những bồn hoa đủ màu.  Ngay đầu con đường nầy, bên tay phải là Đền Thờ Quốc Tổ (đả kể ở trên), bên trái là Viện Bảo Tàng Saigon (sẽ nói đến sau).  Con đường nầy chạy dài, thẳng tắp độ 200 mét thì hết, đụng vào con đường chạy dọc theo rạch Thị Nghè.  Ngay tại ngả ba nầy là một sân khấu lộ thiên nhỏ, có tam cấp đi lên, hai bên viền lại bằng các giàn bông giấy đủ màu trắng, đỏ, và tím.  Đây chính là nơi hòa nhạc công cộng vào các ngày lể hay Chúa Nhựt để giúp vui cho du khách.  Ở vào khoảng giữa con đường lớn nầy có một ngả tư.  Con đường cắt ngang, nếu ta rẽ về bên tay phải, sẽ dẩn ta vào khu trung tâm của Sở Thú, nơi có chuồng khỉ, hầm gấu, chuồng chim, két,  và, đặc biệt nhất, là một hồ sen rất lớn, ở giữa có nhà thủy tạ hình bát giác có cầu gổ từ trong bờ đưa ra.  Hồ sen nầy, từ thập niên 60 trở đi có nuôi nhiều cá chép Nhật Bản đủ màu rất đẹp.  Rời khu vực hồ sen ta sẽ đến khu chuồng cọp, sư tử và dã nhân.  Sau đó bọc vòng trở lại bờ sông thì có chuồng voi và nai.  Từ bờ sông gần chuồng voi có một cây cầu lớn dẩn qua khu Thị Nghè.  Chính trên cây cầu nầy đã xảy ra vụ tai nạn làm chết nhiều người trong thời gian Hội Chợ Thị Nghè trong thời Đệ Nhứt Cộng Hòa.  Ngoài các loại thú, Thảo Cầm Viên cũng có trồng nhiều kỳ hoa dị thảo, và có cả một khu nhà kiếng cho các loại phong lan. 



Công trước Thảo cầm viên



Đền thờ vua Hùng trong Thảo cầm viên

Đến Thảo Cầm Viên mà không vào viếng Viện Bảo Tàng sẽ là một điều đáng tiếc.  Viện Bảo Tàng, như đã nói ở trên, nằm ngay bên phía tay trái khi bước vào cổng chính của Sở Thú.  Thời Pháp thuộc Viện Bảo Tàng mang tên Pháp là Musée Blanchard de la Brosse.  Trong thời Cộng Hòa, cố học giả Vương Hồng Sển đã làm Giám Đốc viện trong khoảng 10 năm.  Tôi xin mạn phép mở một đấu ngoặc nhỏ ở đây để ghi lại đôi dòng kỹ niệm về vị thầy khả kính vừa khuất bóng. Năm thứ hai ở Đại Học Sư Phạm Saigon, niên khóa 1961-1962, anh chị em Ban Sử Địa chúng tôi được may mắn học môn sử Việt Nam với thầy Vương Hồng Sển.  Ngoài việc dạy môn chính khóa nầy, thầy còn kể cho chúng tôi nghe những nghiên cứu của thầy về đồ sứ men lam Huế mà thầy là chuyên gia số một của thế giới.  Tôi còn nhớ mãi hai câu thơ thầy đã ngâm cho chúng tôi nghe khi nói về chiếc dĩa Mai Hạc: 

                           " Nghêu ngao vui thú yên hà
                       Mai là bạn củ, Hạc là người quen"

Tôi xin được đóng dấu ngoặc lại ở đây.  Xin mời độc giả trở lại Viện Bảo Tàng.  Viện Bảo Tàng là một toà nhà lớn, dài, sơn trắng, xây trên một nền cao.  Bên trong chia làm nhiều phòng, mổi phòng dành riêng cho một giai đoạn lịch sử hay một nền văn minh, chủ yếu là các cổ vật của nước ta và các quốc gia trong vùng như Chiêm Thành, Phù Nam, Chân Lạp.  Đáng chú ý nhứt có lẻ là phòng trưng bày các cổ vật của nền văn minh Óc Eo, đào được tại Long Xuyên trong thập niên 40, đặc biệt là hai đồng tiền cổ La Mã thời Hoàng Đế Marc Aurèle, chứng tỏ Vương Quốc Phù Nam xưa đã có những trao đổi hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp (qua các thương nhân Ả Rập?) với Đế Quốc La Mã. 
Một cơ sở văn hóa quan trọng khác, trong đầu thập niên 60, là Viện Khảo Cổ, cũng nằm ngay trên đường Nguyễn Bĩnh Khiêm, đối diện với Sở Thú (từ cuối thập niên 60 trở đi Viện Khảo Cổ mới dời về đường Gia Long, đối diện với Bộ Kinh Tế).  Khi tôi học năm thứ nhứt tại Đại Học Sư Phạm Saigon, thầy dạy môn Phương Pháp Sử của chúng tôi là Giáo Sư Trương Bữu Lâm, lúc đó là Giám Đốc Viện Khảo Cổ.  Trong năm học thầy Trương Bữu Lâm tổ chức cho anh chị em sinh viên chúng tôi vào viếng Viện để được nghe thuyết trình về công tác của Viện, và chính tại đây tôi đã được lần đầu tiên nhìn thấy tận mắt một chiếu chỉ của triều Lê Thánh Tôn, lồng kính treo trên tường trong phòng làm việc của thầy.
Ngoài các cơ sở văn hóa quan trọng vừa nêu trên, khu Đakao còn có khá nhiều rạp hát, cả cho bộ môn hát bội, cải lương và chiếu bóng.  Về môn hát bội thì rạp hát chính là những ngôi đình mà tôi đã có kể qua ở phần trên.  Về cải lương thì có rạp Thuận Thành ở đường Paul Bert (Trần Quang Khải, về sau bị phá đi để xây rạp chiếu bóng Văn Hoa) là nơi đóng quân của đoàn Phụng Hảo, và một rạp nữa trên cùng một đường mà tôi không còn nhớ tên và là nơi đóng quân của đoàn Bích Thuận. Về chiếu bóng thì có rạp ASAM và Casino Đakao cùng nằm trên đường Albert 1er (Đinh Tiên Hoàng), và rạp Nam Tân trên đường Dr. Angier (Nguyễn Bĩnh Khiêm).  Sang thập niên 60 chỉ còn lại rạp Casino Đakao, sau năm 1975 đổi tên lại gọi là rạp Cầu Bông.

Các Món Ăn Ngon Khu ĐaKao

Nói về văn hóa mà không nói đến các món ăn thì có phần thiếu sót, vì ăn uống cũng là một phần khá quan trọng trong đời sống văn hóa của một dân tộc.
Sau đây tôi xin lược kể ra các món ngon nổi tiếng của khu Đakao.  Trước hết xin kể về các món ăn của người Việt. Khu Đakao nổi tiếng về các món ăn sau đây: cơm tấm, bánh cuốn, và bánh mì thịt.  Về cơm tấm thì có hai tiệm.  Tiệm thứ nhứt nằm trong đường Nguyễn Phi Khanh, không có bảng hiệu, nhưng khách ăn quen thường gọi là Cơm Tấm Bà Ba Liên, theo tên bà chủ tiệm.  Cơm tấm tiệm nầy ngon nhờ gạo ngon, nấu khéo, hột cơm rời nhưng không khô, bì nhiều thịt ít da và luôn luôn tươi (vì khách ăn tới đâu thì bà chủ mới xắc tới đó), và nước mắm thì pha đậm (lại bằng nước mắm hạng ngon) nên không cần chan nhiều.  Tiệm nầy chỉ bán có hai loại, cơm tấm bì, và cơm tấm bì chả, miếng chả rất ngon vì chắc chớ không bời rời và nhiều thịt cua.  Dĩ nhiên tiệm cũng bán luôn cà phê phin đen và sửa, nhưng cà phê nầy chỉ thuộc loại xoàng.  Tiệm thứ nhì theo tôi nhớ cũng không có bảng hiệu nhưng ai cũng gọi là Cơm Tấm Hiền Vương vì nằm trên đường Hiền Vương, gần tới ngả tư Hai Bà Trưng.  So với tiệm Bà Ba Liên, cơm tấm tiệm nầy không ngon bằng, nhưng không khí và giá cả có vẻ bình dân hơn.  Cơm tấm tiệm nầy thì nhiều loại hơn, cơm tấm bì, cơm tấm bì chả, cơm tấm bì hột gà, cơm tấm bì nem chiên.  Miếng chả tiệm nầy thì thua xa tiệm Bà Ba Liên, vì chỉ có trứng và thịt heo chớ không phải làm bằng thịt cua.  Món ngon của tiệm nầy chính là cơm bì nem chiên, với mấy chiếc nem Lái Thiêu chiên mở vàng ngậy, thơm lừng.  Cà phê tiệm nầy thì uống cũng được mà không uống cũng không có điều gì đáng tiếc.  Về bánh cuốn thì phải nói là rất nổi tiếng, đó là bánh cuốn Tây Hồ.  Hàng bánh cuốn nầy thật ra không có tên, người ta gọi như thế là vì lúc mới ra hàng nầy đặt cơ sở trong sân của Đền thờ Cụ Tây Hồ Phan Châu Trinh ở bên cạnh chợ Đakao.  Sau 1975, cửa hàng dời ra một căn phố nhỏ đường Đinh Tiên Hoàng, gần ngả ba với đường Huỳnh Khương Ninh.  Bánh cuốn Tây Hồ ngon nhờ cuốn ăn liền tại chổ, bột rất mõng, nhưn ngon vì làm bằng thịt heo tươi, trộn nấm mèo và củ hành xắc nhuyễn, nước mắm chanh pha rất loãng nhưng vừa miệng nên có thể chan nhiều.  Về bánh mì thịt thì nổi tiếng nhứt là xe Bánh Mì Bảy Quan, đặt tại ngả ba Đinh Tiên Hoàng và Huỳnh Khương Ninh.  Nét đặc biệt của xe bánh mì nầy là không bán vào buổi sáng, mà chỉ bán vào ban đêm, từ 6 giờ chiều trở đi.  Cái ngon của bánh mì Bảy Quan là một tổng hợp của nhiều đặc điểm:1) bánh mì luôn luôn nóng dòn (do được nướng lại trên một cái lò than đằng sau chiếc xe), 2) bánh mì được phết một lớp mõng sauce mayonnaise, 3) sau đó được phết thêm lên trên một lớp ba tê gan, 4) thịt ba chỉ (cuộn lại, cột chặt bằng dây, và có nhuộm phẩm đỏ bên ngoài) luôn luôn mới mổi đêm, và 5) kèm theo là đồ chua (củ cải trắng và cà rốt xắc cộng dài và ngâm dấm), dưa leo và mấy cọng ngò tàu tươi xanh.  Về sau nhiều người cũng nhái theo công thức nầy và ra nhiều xe bánh mì khác, cũng có tiếng, nhu Ba Lẹ, Bé Bự, nhưng vẩn không tài nào giựt nổi khách của Bảy Quan.
Về món ăn Tây, thì khu Đakao, như có nói qua trong Phần Thứ Nhứt về các con đường, có khá nhiều nhà hàng cơm Tây khá nổi tiếng, tất cả đều nằm trên đường Albert 1er (Đinh Tiên Hoàng).  Nhà hàng lâu đời nhứt trong khu Đakao là nhà hàng Casino Đakao, đối diện với rạp chiếu bóng có cùng tên, và cũng là nhà hàng cơm Tây đầu tiên của cả Saigon có bán Repas Complet với ba món và với một giá tiền nhứt định.  Các món nổi tiếng của nhà hàng nầy là Soupe à l'Oignon, Poulet Marengo, và Homard Thermidor.  Soupe à l'Oignon (súp hành) dựng trong tô lớn bưng ra múc vào dĩa cho khách, rất nóng, thành phần gồm có củ hành tây xắc khoanh và chiên vàng, fromage Gruyère bào nhuyển, và mấy miếng ruột bánh mì, trong một thứ nước súp rau cải ngọt lịm.  Poulet Marengo (Gà Marengo) là một món gà (thường là cái đùi) chiên vàng, thả vào trong một thứ nước sốt rất sệch có pha sửa và có đủ thứ đồ bổi như cà rốt, khoai tây, và cà mấy khoanh bánh mì nữa.  Homard Thermidor (Tôm hùm Thermidor) là món tôm hùm làm bằng thịt tôm hùm trộn với fromage, dồn trở lại vô vỏ tôm, rồi đút lò.  Một nhà hàng cơm Tây khác là Chez Albert thì nổi tiếng với hai món ngon, Salade Russe au Crabe và Chateaubriand.  Salade Russe au Crabe làm bằng các loại cà rốt, khoai tây, đậu Hòa Lan, tất cả xắc vuông nhỏ, trộn sauce mayonnaise và thịt cua, món nầy ăn rất ngon nhưng không ăn nhiều được vì quá béo nên mau ngán. Chateaubriand là một loại steak cao cấp, làm bằng một miếng thịt bò rất dầy, nhưng rất mềm, ăn kèm với khoai tây chiên.  Một nhà hàng cơm Tây nữa nổi tiếng với món Bouillabaisse là nhà hàng La Cigale (Con Ve Sầu), ở gần ngả tư với đường Richaud (Phan Đình Phùng).  Bouillabaisse là món đồ biển, gồm có nhiều loại tôm, cá, cua, ốc, mực, ăn với một loại nước chấm đặc biệt.  Món nầy ngon hay dở là do nước chấm đó, nghe nói làm rất công phu, món nầy xuất phát từ vùng Marseille của Miền Nam nước Pháp.  Một nhà hàng cơm Tây khác nữa là nhà hàng Duy Ban, đối diện với Chez Albert, cũng nổi tiếng, nhưng có lẻ nổi tiếng là do khung cảnh (rất lịch sự, trang nhã) hơn là món ăn, vì tôi không còn nhớ món nào là món ngon của nhà hàng nầy cả.
Về món ăn của người Hoa thì dĩ nhiên, không nói ai cũng biết, đó là mì Cây Nhản.  Tiệm mì nầy mang cái tên dễ nhớ đó là vì đặt cơ sở trong sân một ngôi nhà xưa, đối diện với trường Tiểu Học Đakao, có một cây nhản rất lớn.  Mì Cây Nhản ngon nhờ một thứ nước sốt đặc biệt, làm bằng thịt heo xoay nhuyển, vừa ngọt, vừa béo, vừa thơm.  Sau khi nấu mì xong cho vào tô, trước khi đổ nước lèo vào, thì nước sốt nầy được chan một ít lên trên mặt vắt mì.  Nước sốt nầy như thế sẽ thấm vào cọng mì, và sau đó tan vào trong nước lèo luôn, làm thành cái vị đặc biệt mà không có tiệm mì, xe mì nào có được.  Tiềm mì nầy, sau năm 1975, dời ra ngoài xa lộ, cách cầu Phan Thanh Giản chừng vài trăm mét.



         Đường Đinh Tiên Hòang hướng về đường Hiền Vương và rạp Casino Đa Kao



              Đọan từ cầu Phan Thanh Giản về ngả tư Đinh Tiên Hòang - Phan Thanh Giản

Nói đến chuyện ăn uống ở Đakao mà không nói đến tiệm Cà phê Thái Chi sẽ là một thiếu sót lớn.  Dân sành điệu chuyên uống cà phê phin ở Đakao, và có lẻ một phần khá lớn dân ghiền cà phê phin của Saigon, ai mà không biết tiệm cà phê Thái Chi nầy.  Nằm ngay sát đầu đường Nguyễn Phi Khanh, tiệm cà phê nầy đặt cơ sở trong một căn phố nhỏ xíu, bề ngang chừng hơn ba mét, còn bề sâu vô chắc chừng hơn hai mét thôi, trong tiệm chỉ đặt được chừng ba hay bốn cái bàn gổ nhỏ, thấp lè tè, ghế thì toàn là ghế đẩu.  Tuy nhiên đừng vì cái bề ngoài lôi thôi nầy mà bị lầm.  Cà phê phin tiệm nầy có thể xếp vào hàng ngon nhứt của cả thành phố Saigon, theo ý kiến riêng của cá nhân tôi, thì còn ngon hơn cả cà phê phin Gió Bắc một thời lừng danh ở đường Phan Đình Phùng, trong khu Bàn Cờ.  Chủ nhân là một cặp vợ chồng sồn sồn (hồi thập niên 60, bây giờ không biết còn sống hay không) người Bắc di cư năm 1954 không có con cái gì cả.  Cà phê tiệm nầy ngon nhờ làm toàn bằng cà phê loại ngon của Ban Mê Thuột, do chính chủ nhân rang, ướp, và xay một cách đặc biệt nên hương vị vô cùng đậm đà, khi phục vụ khách thì dùng những phin rất tốt, pha thật đậm đặt, nên uống vô thì "phê" vô cùng.  Tiệm nầy hiện nay vẩn còn ngay tại địa điểm nầy, nhưng khách thì đông hơn gấp bội, vì tiệm bày thêm rất nhiều bàn ra ngoài lề đường luôn.  Điều nầy đã một lần nữa xác định tiệm Cà phê Thái Chi của khu Đakao quả là "danh bất hư truyền".                  

Thay Lời Kết


Qua sự trình bày trên chắc bạn đọc cũng khó mà không đồng ý với tôi rằng khu Đakao quả thật là một trong những cái nôi văn hóa quan trọng của thành phố Saigon.  Nó là một trong những vùng đất được định cư từ lâu đời nhứt của Saigon, với một mật độ tập trung văn hóa rất cao về nhiều mặt: giáo dục, tôn giáo, bảo tàng, văn nghệ, và cả ẩm thực nữa.  Ước mong sau nầy sẽ có những công trình địa phương chí nghiên cứu nghiêm chĩnh vùng đất nầy để trả lời cho những thắc mắc mà đến nay vẩn chưa được giải đáp thỏa đáng như: nguồn gốc của địa danh Đakao và Đất Hộ, tại sao có quá nhiều đình trong một khu vực nhỏ hẹp như vậy, ai là những người dân đầu tiên khai phá vùng đất nầy.




Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2013

Đây là bài Lê Quý Đôn hành khúc do thầy Trần Anh Linh sáng tác cho trường chúng ta. Bài này được các bạn  Mai Thi, Lam Điền, Anh Thư, Hồng Nhung, Khôi, Bách (dương cầm) promo 1979 trình bày. Tôi lấy từ youtube đưa lên trang blog.



Thứ Năm, 14 tháng 2, 2013


Đây là bài của một cựu học sinh trường Jean Jacques Rousseau năm 1959 viết về Sài Gòn xin giới thiệu đến các bạn.

SÀI GÒN VÀ NHỮNG TÊN ĐƯỜNG XƯA
         
                                                      Tác giả : Trần Ngọc Quang, JJR 59  


Từ hơn một thế kỷ nay, nước Việt Nam đã chịu rất nhiều thay đổi về chánh trị, hành chánh, văn hóa, xã hội.... luôn cả tên đường của Sài Gòn. Nhiều đường đã thay đổi tên hai, ba lần và vài đường mang tên các vị anh hùng hồi đời nhà Nguyễn đều biến mất. Vài người Việt ở nước ngoài khi trở về nước gặp nhiều khó khăn mới tìm lại được nhà mình đã ở lúc trước. Những bạn sanh ra sau 1975 lại không thể hình dung các tên đường thuở trước, nói chi đến lịch sử và tiểu sử của các vị đó. Riêng tôi, nhờ những kỷ niệm in sâu vào óc từ thuở niên thiếu và lại có tánh tò mò muốn biết thêm lịch sử nên tôi cố gắng nhắc lại đây vài tên đường để công hiến các bạn đọc giả và xin ngọn gió bốn phương cho biết thêm ý kiến để tu bổ về sau.

Tôi sanh ra tại nhà bảo sanh của Bác Sĩ Lâm Văn Bổn số 205 đường Frère Louis, gần chợ Thái Bình thuộc Quận 3 thuở đó của Đô Thành Sài Gòn, vào thời Đông Dương sắp vào chiến lửa binh đao, chín tháng trước khi Tân Châu Cảng chìm trong khói lửa, lúc đó Việt Nam còn là một thuộc địa của Pháp Quốc và nhiều đường Sài Gòn mang tên Pháp. 

Tôi lớn lên tại Sài Gòn, tại số 148 đường Colonel Boudonnet dọc theo đường rầy xe lửa, sau nầy đổi tên là Lê Lai tới nay, đường lấy tên của Đại Tá Théodore Boudonnet  thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh Thuộc-Địa và Tư lệnh Sư Đoàn Bộ Binh An Nam, tử trận bên Pháp hồi 1914. Mặt đất đường nầy thấp hơn các đường Frère Louis, Phan Thanh Giản và Frères Guillerault nên mỗi khi mưa lớn là đường bị ngập : "nhờ vậy" mà sau khi tạnh mưa, dọc theo bức tường ngăn đường rầy và đường lộ những con dế từ đất chui ra hang để khỏi bị ngộp, nên tôi đi bắt đến khuya mới về ít lắm là ba bốn con và thường bị mẹ tôi quở trách. 

Sau khi "chạy giặc" hồi 1945 vì máy bay đồng minh oanh tạc nhà ga và đường rầy xe lửa để chận tiếp tế cho quân Nhựt, gia đình tôi trở về sống tạm trước Nhà thờ "Huyện Sỹ" đường Frères Guillerault và năm sau rồi dọn trở về lại hẻm 176/11 đường Colonel Boudonnet. 

Nhà thờ Huyện Sỹ xây cất năm 1905, ông là người giàu có vùng Gò Công, tên thật là Lê Phát Đạt và là Ông ngoại của Nam Phương Hoàng Hậu, vợ của Hoàng Đế Bảo Đại. Gần nhà thờ Huyện Sỹ có hai đường mang tên Frère nhưng nếu Frère Louis là  để tưởng nhớ  đến Thầy Louis Gaubert lập ra trường Taberd,  đường Frères Guillerault (có chữ "S" sau Frères) là để tưởng nhớ đến hai anh em Roland và Léon Guillerault sinh trưởng tại Sài Gòn và tử trận trong Đệ Nhứt Thế Chiến bên Pháp.

Trong lúc "tản cư" tôi đi học lớp chót trường làng tại quận Hóc Môn và vì một sự tình cờ mà Ba tôi ghi cho tôi học tiếp miển phí lớp "douzième" trường Chasseloup-Laubat, thay vì Petrus Ký như Ba tôi."Trường Chasseloup" xây cất trong ba năm nơi rạp hát bội của Tả Quân Lê Văn Duyệt, lúc đầu mang tên Collège Indigène de Saigon, nhưng khi khánh thành năm 1877 thì đổi lại là Collège Chasseloup-Laubat và từ 1928 trở thành Lycée có nghĩa là luyện thi đến lớp Tú Tài, mang tên của Hầu Tước Justin De Chasseloup Laubat, Bộ Trưởng Bộ Hải Quân và Thuộc Địa dưới thời Napoléon III, người quyết tâm chiếm và giữ Nam Kỳ. Hồi 1946 quân đội pháp mới trở lại Việt Nam nên ít có gia đình và trẻ con pháp sống tại Sài Gòn nên dư giáo viên mà thiếu học trò ! Lớp 12è niên khoá 1946-1947 trai và gái học chung tại Collège Calmette gần đó, sau đó vài năm trường nầy đổi tên là Lycée Marie Curie cho đến  ngày nay. Tôi còn nhớ lúc ra về tôi chạy nhanh ra cổng, không phải để tìm Ba tôi, thường người ra sở trễ và đi xe đạp từ "Toà Tân Đáo" (Sở Ngoại Kiều) ở đường Georges Guynemer dưới Chợ Cũ lên rước tôi, mà là để tranh thủ thời giang để cạo mủ cao su !

Thật vậy, giữa trung tâm thành phố Sài Gòn không hiểu ông Tây nào có ý kiến trồng cây cao su theo hai bên đường Jauréguiberry cho có bóng mát ? Bernard Jauréguiberry là một Đề Đốc Pháp đã đánh vào Đà Nẳng và chiếm thành Gia Định, về sau giữ chức Thượng Nghị Sĩ và  Bộ Trưởng Bộ Hải Quân, mà tại sao lại đặt tên cho một đường nhỏ bên hông trường Calmette ? Nhưng dù sao đi nữa những cây cao su đó, sau khi lấy đá đập vào vỏ thì chảy ra mủ trắng rất nhiều. Tôi trét mủ ấy trên cập táp da của tôi rồi khi mủ khô thì cuốn tròn quanh một cục sỏi và ngày qua ngày trở thành một trái banh nhỏ.

Như vậy tôi thuộc vào thành phần "Nam Kỳ chánh cống" và "dân Sài Gòn một trăm phần trăm", lớp tuổi gần 70 và và sống tại Saigon trong 34 năm. Những bạn lớn hơn tôi vài tuổi và nhũng bạn gốc "Bắc trước năm mươi tư" mới biết tên đường cũ như tôi, các bạn khác ráng mà tìm các tên trong trang sau cùng !  Không phải tôi bị "tây hóa"nên không chịu dùng tên việt nam, nhưng các tên đường cũ đả khắc sâu vào trí nhớ tuổi thơ của tôi, hơn nửa lúc trẻ tôi hay tìm tòi trong tự điển Larousse coi ông nầy là ai mà họ đặt tên đường, sau thế hệ của chúng tôi, ít còn ai nhớ đến tên những con đường Sài Gòn năm xưa…

Mẹ tôi có thuê một cyclo để đi làm và đưa tôi đi học tại trường Chasseloup, "Chú Ba Xích Lô" mỗi  ngày chạy ra phía nhà ga Sài Gòn theo đường Colonel Boudonnet, sau khi qua rạp hát Aristo, nay là New World Hotel, quẹo trái qua  đường Chemin des Dames và băng qua  đường Lacote (chớ không phải  Lacotte, Moïse Lacote là cựu Trưởng Ban Hành Chánh vùng Gia Định và Giám Đốc Thuế Vụ Nam Kỳ vào năm 1896) hoặc theo đưòng Amiral Roze (người đã từng tấn công Nam Hàn) để đi thẳng tới đường Gia Long, tên của đường La Grandière vào khoảng ấy (Đề Đốc Pierre De La Grandière thay thế Đề Đốc Bonard là một trong những Thống Đốc đầu tiên của Nam Kỳ, Ông tự động đi chiếm xứ Cambodge năm 1863 mà không có lệnh của Hoàng Đế Napoléon III và cũng chính Ông đã chiếm ba tỉnh miền Tây năm 1867 làm cho Cụ Thống Tướng Phan Thanh Giản phải đầu hàng và sau đó tự vận, dưới thời Đề Đốc De La Grandière Sài Gòn phát triển mạnh mẻ).

Chú Ba Xích Lô xuyên qua vườn "Bờ Rô" để có bóng mát rồi ra đường Larégnère, sau nầy là đường Đoàn Thị Điểm. Tôi không biết tại sao người ta kêu công viên đó bằng tên ấy, có thể là phiên âm của chữ "préau (sân lót gạch) nhưng theo học giả Trần Văn Xướng thì do Ông "Moreau", tên của người quản thủ pháp đầu tiên chăm nom vườn nầy; thuở trước các người lớn tuổi còn gọi là "vườn Ông Thượng", có thể là vì trước kia Tả Quân Lê Văn Duyệt là người tạo ra vườn nầy. Dưới thời pháp thuộc vườn "Bờ Rô" nằm trong khu đất của dinh Thống Đốc nhưng vào năm 1869 Phó Đề Đốc Hector Ohier, người thay thế Đề Đốc De La Grandière, cắt chia đất và tặng thành phố vườn nầy mang tên Parc Maurice Long. Mười năm sau đường Miss Cavell được tạo ra, lúc đó mang tên rue de la Pépinière, để  biệt lập với dinh Thống Đốc mà sau nầy là Palais Norodom và sau 1954 trở thành Dinh Độc Lập rồi Dinh Thống Nhứt sau 1975. Cũng có thể tên "Ông Thượng" là Ông Ohier, có tên đường dưới chợ cũ, nhưng tới đời tôi chỉ gọi vườn đó là "vườn Bờ Rổ", sau nầy mang tên vườn Tao Đàn.

Ra vườn Bờ Rô gặp  đường Chasseloup-Laubat rồi  đi thẳng trên  đường Larégnère, sau  đó tới  đường Testard: hai tên nầy ở gần nhau cũng đúng vì Trung Tá Bộ Binh Jules Testard và Thiếu Úy Hải Quân Etienne Larégnère, 31 tuổi (chớ không phải Lareynière hay Laraignère ) tử vong cùng một trận đánh ác liệt tại Đồn Kỳ Hòa, ở vùng trường đua Phú Thọ, giữa lực lượng cua Thống Tướng Nguyễn Tri Phương và Đô Đốc Victor Charner năm 1861. Ai cũng biết đường Chasseloup-Laubat, một đường chiến lược rất dài đi từ Chợ Lớn, từ đường 11è R.I.C (Régiment d'Infanterie Coloniale) đến Thị Nghè, sau 1955 đường nầy đổi tên là Hồng Thập Tự.

Đi thẳng đến đường Testard, chú Ba quẹo mặt và bỏ tôi xuống ở góc đường Barbé vì học sinh vào trường Chasseloup bằng cửa sau. Góc đường nầy sẽ liên hệ nhiều với tôi sau nầy khi tôi trở thành sinh viên y-khoa. Đường Barbé (chớ không phải Barbet ) có từ lâu và mang tên của Đại Úy Nicolas Barbé thuộc Sư Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến Pháp bị Ông Trương Định cho tên Nguyễn Văn Sất ám sát vào năm 1860 gần chùa Khải Tường, nơi vua Minh Mạng sanh ra năm 1791 lúc Nguyễn Ánh chạy lọan vào miền nam để tránh anh em Tây Sơn. Chùa nầy do Nguyễn Ánh sau khi trở  thành vua Gia Long ra lệnh xây cất để tạ ơn Phật Trời đã che chở cho con trai là Nguyễn Phúc Đàm (vua Minh Mạng sau nầy), sau đó chùa được lập làm đồn chống pháp nên bị lính pháp phá dẹp hồi 1880, pho tượng Phật hiện còn lưu niệm trong Viện Bảo Tàng Sài Gòn, trong Sở Thú. Trên nền chùa bỏ hoang nầy về sau có cất lên một biệt thự lầu lớn kiểu âu-châu tại số 28 đường Testard mà Bà Bác Sĩ Henriette Bùi (con gái thứ ba của Ông Bùi Quang Chiêu) mướn lại của người chủ là một luật sư người pháp làm dưỡng đường sản-phụ khoa vào thập niên 1940. Ông Bùi Quang Chiêu (1872-1945) là kỹ sư canh nông việt nam đầu tiên tốt nghiệp bên Pháp năm 1897 và bị Trần Văn Giàu  (phong trào Việt Minh) ám sát cùng ba người con trai vào tháng 9 năm 1945. Còn Bà Henriette Bùi Quang Chiêu sanh năm 1906 là người đàn bà việt nam đầu tiên tốt nghiệp y-khoa bác sĩ tại Paris năm 1929, nay Bà đã 103 tuổi và hiện còn minh mẩn và sống tại ngoại ô Paris: Bà kể lại rằng vào năm 1943 nhà nầy được bán lại cho một người Do Thái tên là David chủ của nhiều biệt thự tại Sài Gòn; vào đầu năm 1945 chánh phủ pháp trưng dụng nhà nầy và cho Bà thuê một biệt thự khác ở đưởng Blancsubé để dời dưỡng đường đến đấy. Tháng 3 năm 1945 Nhựt đảo chánh Pháp và tịch thu căn villa nầy, và khi Pháp trở lại thì trao cho Viện Đại Học Sài Gòn để rồi năm 1947 nơi nầy trở thành chi nhánh của Đại Học Y-Dược Khoa Hà Nội rồi năm 1954 thành Đại Học Y-Dược Khoa Saigon, nơi tôi được đào tạo trong sáu năm với GS Phạm Biểu Tâm làm Khoa Trưởng. Nơi đầy kỷ niệm nầy nay là Bảo Tàng chứng tích chiến tranh. 

Lớn lên tôi đi xe đạp về một mình nhưng thích đi theo đường Testard hơn vì có bóng mát dưới hàng cây me, song song với đường Richaud (sau đổi lại đường Phan Đình Phùng) và thường ghé biệt thự số 6 đường Eyriaud des Vergnes (sau là Trương Minh Giảng) chơi với một bạn học cùng lơp nhứt là vào mùa các cây trứng cá có trái. Ông Etienne Richaud là một Toàn Quyền Đông Dương hồi cuối thế kỷ XIX, còn Ông Alfred Eyriaud Des Vergnes người gốc Châteauroux là Kỹ Sư Trưởng Nha Công Chánh Nam kỳ (Cochinchine), Ông là một thần đồng tốt nghiệp trường Polytechnique tại Paris lúc 17 tuổi sau đó học trường Ponts et Chaussées, ra lệnh lấp kinh Charner, tạo hệ thống cống dài 7 km, cất 12 cầu theo "Kinh Tàu" (Arroyo chinois nối liền với rạch Bến Nghé chảy ra sông Sài Gòn). Ông Eyriaud Des Vergnes là người đầu tiên có ý lập ra đường sắt tại Việt Nam chạy lên Cambodge nhưng kế hoạch không thành, về sau nhờ Kỹ Sư Thévenet Giám Đốc Nha Công Chánh Nam Kỳ và sự hỗ trợ của Cố Vấn chánh phủ Paul Blanchy mà Việt Nam có đường sắt đầu tiên đi từ Sài Gòn đến Mỹ Tho năm 1885. Hai người nầy cũng có tên đường và sau 1955 đổi lại là Tú Xưong (Thévenet) và Hai Bà Trưng (Paul Blanchy).

 Sau khi qua đường Pierre Flandin (tên của một "đứa con" của Sài Gòn tuy sanh tại vùng Vaucluse và tử trận tại Noyon, tỉnh Oise, miền bắc nước Pháp vào năm 1917), đến cuối đường gặp rạp hát Nam Quang (nay vẫn còn), tôi quẹo trái ra đường Verdun (khoảng đó tên là đường Thái Lập Thành), đến ngã sáu Sài Gòn thì tôi lại đi qua đường Frère Louis để về nhà bằng đường d'Ypres cho vắng xe. Đường nhỏ nầy ở sau "Mả Lá Gẫm", đúng hơn là của Ông Mathieu Lê Văn Gẫm, có bức tượng trong nhà thờ Huyện Sỹ, tử đạo thời vua Thiệu Trị vì bị hành hình lối năm 1847, mả đó nay vẫn còn nguyên tuy bị che khuất, và Ypres là tên một thành phố nhỏ bên vương quốc Bỉ, như thành phố Dixmude, nơi đã xẩy ra những  trận đánh lớn hồi Đệ Nhứt Thế Chiến.

Đi xích lô mỗi ngày như vậy hoài cũng chán nên tôi thường đề nghị với Chú Ba đi về bằng ngả khác, thuở ấy đường phố ít xe hơn bây giờ vì Sài Gòn và Chợ Lớn không hơn một triệu dân cư. Tôi thích nhứt đi về nhà qua chợ Sài Gòn : Chú Ba tránh đường Mac Mahon (sau 1952 đoạn nầy lấy tên De Lattre de Tassigny và sau đó là Công Lý), đi đường Barbé và một đoạn đường Chasseloup-Laubat, rồi quẹo trái qua đường Miss Cavell với hàng cây cao bên hông Cercle Sportif Saigonnais (tên không phải viết Cawell hay Cavel : Edith Cavell là một nữ y-tá người Anh bị quân Đức xử bắn tại Bỉ vào năm 1915 lúc 50 tuổi vì giúp tù binh Anh, Bỉ và Pháp trốn qua Hòa Lan) để trổ ra đường Aviateur Garros rồi xuống chợ Sài Gòn, nơi bán nhiều trái cây (Roland Garros là phi công Pháp đầu tiên bay xuyên biển Méditerranée hồi 1913 và tử trận năm 1918).

Rồi cứ đi theo mãi đường d'Espagne (sau là Lê Thánh Tôn) vì vào 1859 quân lính Tây-Ban-Nha dưới quyền chỉ huy cua các Đề Đốc Pháp đóng tại đó, để về Ngã Sáu (Phù   Đổng) rồi về Colonel Boudonnet bằng ngã Amiral Roze. Đặc biệt Sài Gòn có rất nhiều tên đường mang tên các trận đánh thời Đệ Nhứt Thế Chiến (Boulevard de la Somme, Chemin des Dames,  đường Verdun,  đường Arras,  đường Champagne,  đường Dixmude,  đường Douaumont, Quai de la Marne….) và tên các đề đốc pháp vì dưới thời các vua Minh Mạng và Tự Đức tất cả quân pháp đến Việt Nam bằng tàu thủy mà hai vị có tiếng nhứt là Charner và Bonard. Đô Đốc Léopold Victor Charner người vùng Bretagne, gốc Thụy Sĩ là Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Hải Quân Pháp tại Đông Nam Á, ngưòi đã chiếm Nam Kỳ, còn Đề Đốc Adolphe Bonard (chớ không phải Bonnard ) là Thống Đốc đầu tiên của Nam Kỳ do hoàng đế Napoléon III bổ nhiệm vào năm 1861 dưói thời vua Tự Đức.

Vào cuối thế kỷ XIX kinh rộng nhứt của Sài Gòn là "Kinh Lớn" hay "Kinh Charner" đi từ sông Sài Gòn đến Tòa Thị Xã, có hai đường dọc hai bên : đường chạy xuống bờ sông là đường Rigault de Genouilly, đường chạy lên là đường Charner. Vì mùi hôi thúi người pháp    lấp kinh lại sau nhiều năm bàn cãi và khi "đường Kinh Lấp" thành lập thì đương nhiên lấy tên Boulevard Charner vào năm 1861 nhưng Ba tôi vẫn gọi là đường Kinh Lấp vào những năm 1930. Trước đó, có một kinh dẫn nước sình lầy chảy ra Kinh Tàu từ chợ Bến Thành (người Pháp gọi là Les Halles Centrales), theo Học Giả Vương Hồng Sển vì gần rạch Bến Nghé và gần Thành Gia Định, kinh đó mang tên kinh Gallimard. Thiếu Tá công binh Léon Gallimart có dự trận đánh Kỳ Hòa, và đào kinh nầy vào năm 1861 theo lệnh của Đô Đốc Charner. Kinh nầy sau khi lấp lại theo ý kiến của kỹ sư Thiếu Tá Bovet năm 1867 lấy tên là Đại Lộ Bonard, vì thế đường nầy mới rộng lớn như ngày nay. Lúc lấp kinh và bến đò họ thành lập một công trường lớn, đó là "Bùng Binh" trước chợ Bến Thành mà người pháp gọi là Place Eugène Cuniac, tên của một Thị Trưởng Sài Gòn, nay vẫn còn tên Công Trường Quách Thị Trang, một nữ sinh thiệt mạng lúc biểu tình dưới thời Ngô Đình Diệm năm 1963. Trước Tòa Thị Xã, ở góc đường Charner và Bonard cũng có một bùng binh nhỏ với nước phun lên tên là Place Francis Garnier để tưởng nhớ đến một sĩ quan hải quân trẻ tuổi phiêu lưu trên đất bắc và tử thương tại Hà Nội hồi 1873. Nhiều đường khác củng do lấp kinh mà ra như Boulevard de La Somme (rạch Cầu Sấu, sau nầy là đại lộ Hàm Nghi), đường Tổng Đốc Phương (hay Đỗ Hữu Phương), đường Pellerin (tên của một Giám Mục đã bênh vực công giáo Việt Nam nhưng khuyên lầm Đề Đốc Rigault De Genouilly lúc tấn công Đà Nẳng vào 1858) sau nầy đường Pellerin lấy tên là Pasteur.

Đường mà tôi thích nhứt, sang trọng nhứt và có tiếng nhứt Sài Gòn là đường Catinat, có trước khi người Pháp đến và mang tên một thuyền lớn đã bắn đại bác vào Đà Nẳng (chớ không phải tên của một Đề Đốc như nhiều người tưởng, thuyền "Le Catinat" lấy tên của Thống Chế Nicolas de Catinat, sống hồi thế kỷ XVII dưới thời Louis XIV). Nơi đó có rất nhiều tiệm sang trọng, đường phố sạch sẽ và có nhiều "Ông Tây" ngồi uống cà phê tại khách sạn Continental, lúc  đó chưa có tiệm Givral và nơi  đó là Nhà Thuốc Tây Solirène, thay thế Pharmacie Centrale. Sau nầy có thêm tiệm Brodard ở gốc đường Catinat và Carabelli, tên của một Nghị Viên thành phố. Tôi cũng có dịp vô nhà sách Albert Portail (nay vẫn còn dười tên Xuân Thu từ 1955) và đi dạo trong Passage Eden vì trong cùng có rạp hát Eden, rạp nầy và rạp Majestic ở cuối đường Catinat là hai rạp chiếu bóng sang nhứt Sài Gòn vào thuở đó; đi chơi vậy chớ có tiền đâu mà mua đồ, nhiều lắm thì lấy vài tấm hình mà các ông phó nhòm chụp dạo lúc đi trước "Nhà Hát Tây", cất theo kiểu Opéra bên Paris.  Đường Catinat là đường tráng nhựa đầu tiên của Sài Gòn, khi mới tráng nguời ta kêu là đường "Keo Su" dài tới Nhà Thờ Đức Bà; qua công trường Pigneau de Béhaine trước Bưu Điện có bức tượng Ông "Cha Cả" hay Evêque d'Adran dẫn Hoàng Tử Cảnh ra trình diện Louis XVI tại Versailles. Sau khi qua khỏi đường Norodom thì đường Catinat lấy tên của Cố Vấn chánh phủ và Nghị Viên Thị Xã Sài Gòn Blancsubé và tiếp theo công trường Maréchal Joffre với tượng đài chiến si  tử vong trong Đệ Nhứt Thế Chiến là đưòng Garcerie với những hàng cây cao, sau nầy mang tên Duy Tân và công trường Quốc Tế hay "Hồ Con Rùa". 

Ba tôi có nhiều bạn người Tàu và thừờng vô Chợ Lớn chơi bằng xe lửa điện (tramway) mà người ta thường gọi là "xe lửa giữa" vì chạy giửa đường Gallieni, tới trạm gare de Nancy thì bạn của Ba tôi lên xe lửa đi cùng vì ở gần thành Ô Ma (Camp des Mares, sau nầy là Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia). Tôi còn nhớ xe lửa giữa đó, với ghế cây theo kiểu của Métro xưa bên Paris, chạy thẳng theo đường Gallieni nối liền Sài Gòn với Chợ Lớn. Ba tôi nói lúc trứớc nơi đây toàn là đất hoang và sình lầy, sau khi lấp bưng thành đường đất gồ ghề rồi khi Ba tôi xuống Sài Gòn học vào năm 1928 thì đường mới được tráng nhựa và năm sau điện giăng giữa chia con đường làm hai chiều, một bên chạy lên một bên chạy xuống, đường rầy xe điện đặt trung tâm đại lộ, đến năm 1953 mãn hạn giao kèo khai thác mới dẹp. Đường nầy mang tên của Thống Chế lừng danh Joseph Gallieni chết năm 1916 nhưng phục vụ ngoài Bắc lúc còn Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh và sách vở ghi công Ông về tổ chức hành chánh tại Đông Dương. Tên của Ông viết với chữ "e" chớ không phải với chữ "é" vì là người gốc Ý Đại Lợi.

Xe  điện chạy thẳng vô  đường rue des Marins, qua khu  Đại Thế Giới nay là khu Cát Tường và  đường Jaccario (vì lúc trước pháo hạm "Le Jaccario" đậu gần đó trên "Kinh Tàu" hay Arroyo chinois trong Chợ Lớn, và chắc lính thủy lên bờ nhiều nên mới gọi là rue des Marins), ở góc đường có vũ trường Arc-En-Ciel, nay vẫn là nhà hàng và khách sạn Arc-En Ciel, đến đường Tổng Đốc Phương thì quẹo qua trái mới đến Bưu Điện Chợ Lớn, nhà ga cuối cùng là Gare Rodier, tại Kinh Tàu.

Lúc còn ở đường Colonel Boudonnet tôi có nhiều bạn ở khu nhà thờ Huyện Sỹ và thường vô phía sau nhà thờ bắng "dằng thung" trên mấy cây soài nên bị "Ông Từ" rượt nhiều lần ! Ngoài đường Frères Guillerault trước nhà thờ, còn có đường Duranton và đường Léon Combes mà sau nầy đổi tên là Sương Nguyệt "Ánh". Trung Sĩ Léon Combes là một đứa con của Sài Gòn ở Giồng Ông Tố bên Cát Lái tử trận năm 1917 tại Craonne, thuộc tỉnh Aisne vùng Picardie phía Bắc Paris. Tôi nhớ, vì học "trường tây" nên tôi thắc mắc và tự hỏi  Bà nào mà mang họ Sương mà tôi tìm hoài trong sách vở không thấy ? Sau nầy tham khảo mới biết đó là tên bút hiệu của Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuê (có sách nói là Nguyễn Xuân Khuê), con gái thứ tư của cụ Nguyễn Đình Chiểu, người đàn bà đầu tiên làm Chủ Bút báo "Nữ Giới Chung" cho phụ nữ hồi 1918. Tuần báo nầy còn tên là Fémina Annamite và tòa soạn ở 13 đường Taberd, trong sách kể là Sương Nguyệt ANH (=Góa phụ Nguyệt Anh), nhưng tại sao hồi 1955 họ đổi tên đường Léon Combes thành Sương Nguyệt ÁNH ?

Về sau, gia đình tôi dọn về Chợ Lớn ở đường Lacaze, nay vẫn là đường Nguyễn Tri Phương, nổi tiếng vì "Mì La Cai", đường mang tên của Đô Đốc Lucien Lacaze, Bộ Trưởng Bộ Hải Quân từ 1915 đến 1917 hồi Đệ Nhứt Thế Chiến, nhưng chúng tôi ở khúc trên, gần gốc đường Pavie (nay là Lý Thái Tổ chớ không phải đường 3 tháng 2 vì dường nầy mới có vào lối 1957, lúc trước là trại lính) dẫn lên trường đua Phú Thọ. Khúc dưới đường mang tên ông Auguste Pavie (lừng danh trên đất Lào) dặc biệt rộng lớn và rất dài, có nhiều cây và bên trong có đường dành cho xích lô và xe  đạp. Nếu  đi từ Ngã Bảy xuống công trường Khải Định, từ giữa  đường nầy  đến  đường Frédéric Drouhet sẻ thấy những biệt thự mà "Chú Hoả" cất cho con cháu ở (tên thường gọi của Jean-Baptiste Hui Bôn Hoả một triệu phú người Tàu tham gia với chánh quyền tặng thành phố Sài Gòn Policlinique Dejean De La Bâtie, tên của một bác sĩ tận tụy lo cho người việt nam, ngoài đường Bonard, sau nầy trở thành Bệnh Viện Đô-Thành), sau 1954 các nhà nầy dành cho Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế Đình Chiến ở và khúc đường nầy gọi là đường Hui Bôn Hoả.

Lúc đó đường Pavie có xe nhà binh pháp chạy nhiều vì có thành lính gần đó và tại khu đường Cây Mai, trước khi tới Phú Lâm. Khu đất từ đường Lacaze đến đường Ducos là đồng mả, đường hẻm tôi ở trước một mả đá lớn, mới phá hồi tháng 11 năm 2004 : đó là mả có từ thế kỷ thứ XVIII của một người đàn bà lối 50 tuổi và quan tài thứ nhì chắc là của một người đàn ông, chỉ có vài nữ trang chớ không có vàng bạc chôn theo như người ta tưởng.

Từ đường Lacaze đi ra trường Chasseloup-Laubat xa hơn, tôi phải đạp xe xuống Ngã Bảy, quẹo trái qua đường Général Lizé, rồi đạp thẳng hoài, qua khỏi đường Verdun đường nấy lấy tên Legrand De La Liraye. Qua khỏi trường nữ sinh Gia Long (hồi xưa gọi là Collège des Jeunes Filles Annamites) và đến tận trường Marie Curie mới quẹo xuống đường Barbé. Đường Général Lizé là một đường chiến lược rất dài lúc trước gọi là đường Hai Mươi, đi từ Ngã Bảy Chợ Lớn, nối dài đường Pierre Pasquier, đến đường Albert Premier trên Dakao, lấy tên của Trung Tướng Lucien Lizé, xuất thân từ trường Polytechnique, Paris, Tư Lệnh Pháo Binh chiến trường Ý tử trận hồi 1918, có phục vụ bên Việt Nam lúc còn Đại Tá, còn Legrand De La Liraye là một trong những linh mục thông ngôn cho Đề Đốc Rigaud De Genouilly và trở thành Thanh Tra phụ trách về các hồ sơ giưã người việt và chánh quyền bảo hộ. Sau 1954 đường nầy đổi thành đường Phan Thanh Giản, một vị anh hùng sáng suốt và can đảm của Việt Nam. Tiếc thay sau 1975 không còn đường nào trên mảnh đất Việt Nam mang tên anh hùng dân tộc nầy, cũng như không còn đường vào mang tên Lê Văn Duyệt và cũng không còn trường học nào mang tên Petrus Ký ! Cho tới nay tôi chưa thấy một học giả Việt Nam nào giỏi hơn Petrus Trương Vĩnh Ký, tuy vài "Sử Gia" buộc tội vị nầy nhiều điều vô lý, họ quên rằng công lao lớn nhứt của Ông Petrus Ký là truyền bá cho dân chúng sử dụng chữ quốc ngữ có từ Alexandre de Rhodes vào thế kỷ XVII thay thế chữ Nôm khó học và khó viết. Tôi nghe nói ở Vĩnh Long hiện nay có một trường học mang tên Phan Thanh Giản và vào tháng 11 năm 2008 rạp chiếu bóng Nguyễn Văn Hảo đường Trần Hưng Đạo tại Sài Gòn đang hát tuồng "Tả Quân Lê Văn Duyệt", đó là điều đáng mừng vì những vị anh hùng các triều nhà Nguyễn phải được hồi phục.

Hồi thời Pháp thuộc cũng có những tên đường mang tên những anh hùng hay nhân tài việt nam như đường Paulus Của (Đốc Phủ Sứ Hùynh Tịnh Của) trên Dakao, đường Tổng Đốc Phương (Đổ Hữu Phương) trong Chợ Lớn, đường Phủ Kiệt (Đốc Phủ Sứ Trần Văn Kiệt là Nghị Viên thành phố trên 25 năm), Hùynh Quan Tiên, Nguyễn Văn Đưởm trên Tân Định (cà hai là Nghị Viên Thuộc Địa và Nghị Viên Thành Phố), Nguyễn Tấn Nghiệm (Nghị Viên), và Trương Minh Ký, một trong những Nghị Viên đầu tiên của thành phố, ông nầy tên thật là Trương Minh Ngôn cháu bốn đời của Trương Minh Giảng, được ông Trương Vỉnh Ký đem về nuôi và đổi tên, cho đi Pháp học và là một trong 7 người sáng lập viên ra Trường Thông Ngôn (Ecole des Interprètes) nằm trong Tòa Án, nhờ làm thông dịch viên lúc Traité de Patenôtre năm 1884 nên được vô quốc tịch pháp, người mất lúc 55 tuổi vì bệnh lao phổi.

Vị anh hùng Đại Úy phi công của quân đội Pháp, xuất thân từ trường Võ Bị Saint-Cyr và là cựu sĩ quan Lê Dương mang tên Đỗ Hữu Vị có tên trên một đường từ bùng binh chợ Bến Thành đến đường Charner, trước đó đường nầy mang tên Hamelin sau nầy đổi lại là Huỳnh Thúc Kháng. Đại Úy Vị là con thứ năm của Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương, sau khi học trung học tại trường nổi danh Janson de Sailly tại Paris, nhập học vô trường Saint-Cyr vào năm 1904. Trung Úy bên Bắc Phi, ông gia nhập vào binh chủng Không Quân vừa thành lập; bị thương nặng Đại Úy Vị từ chối giải ngũ và trở về đơn vị Lê Dương và tử thưong tại mặt trận tỉnh Somme năm 1916. Hài cốt được người anh cả là Đại Tá Đỗ Hữu Chấn đem về chôn cất trong nghĩa trang gia đình tại Chợ Lớn.

Nay Sài Gòn mất nhiều di tích ngày xưa, vì chiến tranh và vì sự thay đổi thời cuộc, tôi tiếc nhứt là hồi tháng ba năm 1983 đã sang bằng "Lăng Cha Cả", có từ 1799 để lập một công trường mà chả thấy ai ngồi …. Hai người ngọai quốc đã ảnh hưởng Việt Nam  nhiều nhứt là Alexandre de Rhodes va Pierre Joseph Pigneau de Béhaine, được dân việt nam biết dưới tên Bá Đa Lộc hay Evêque d'Adran, người  đã giúp Nguyễn Ánh lên ngôi,  đi với  Hoàng Tử Nguyễn Phúc Cảnh qua triều  đình vua Louis XVI  để ký Hiệp Ước Versailles năm 1787. Tên thật là Pigneau, sau đó thêm vô sau tên ấp Béhaine của làng Origny-en-Thiérache mà gia đình có phần đất, thuộc tỉnh Aisne, trong vùng Picardie ở miền bắc nước Pháp. Vua Gia Long cất một ngôi nhà ở số 180 đường Richaud cho Bá Đa Lộc (nay vẩn là Tòa Tổng Giám Mục đường Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3) và đọc điếu văn khi người mất năm 1799. Mộ ông người Sài Gòn gọi là Lăng Cha Cả là một trong những di tìch xưa nhứt của Sài Gòn "ở Gia Định" vào thời Gia Long, sau nầy ở trước trại Phi Long trên Tân Sơn Nhứt. Cốt của Cha Pigneau de Behaine được đem về Páp năm 1983 chôn trong nhà thờ Séminaire des Missions Etrangères, rue du Bac tại quận XV Paris. Tôi có viếng thăm nhà kỷ niệm cua Cha Pierre Joseph Pigneau de Béhaine, ở làng Origny-en-Thiérache, trở thành từ năm 1953 "Musée Monseigneur Pigneau de Béhaine" và sau khi xem xong tâm hồn tôi thả về dĩ vãng của một Việt Nam oai hùng tranh đấu cả ngàn năm để giử biên cưong …

Tôi cũng có dịp thăm viếng nhiều di tích của xứ Pháp từ thời Trung Cổ, nhiều lâu đài của Âu Châu và Nga Sô có từ thế kỷ XV, luôn cả những ngôi mộ bên Ai Cạp có trước nền văn hóa của Hy Lạp và tiếc rằng xứ tôi không biết giữ gìn những kho tàng quý giá của lịch sử.



  Tết Sài Gòn trăm năm trước ra sao?   Biết những gì xảy ra trong quá khứ xa xưa dường như là mơ ước muôn đời của con người. Bởi trong c...